Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2022

"Một nửa cái Bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì không còn là sự thật"

Đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã từng trải qua không biết bao cuộc chiến tranh xâm lược; Và để giành lại độc lập, tự do, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, dân tộc ta đã đoàn kết một lòng, đứng lên đấu tranh kiên cường, anh dũng và cũng chịu không ít những mất mát, hi sinh. Trong số đó chắc hẳn nhiều người không quên cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979.


Trong bài “Nhìn lại trận chiến biên giới phía Bắc 1979” của Việt Tân có đoạn viết “bỗng dưng năm nay, Ban Tuyên Giáo CSVN lại cho phép báo đài tập trung viết về cuộc chiến biên giới và tô đậm hình ảnh xâm lược của Trung Cộng qua cuộc chiến này. Đây là ý đồ gian manh của phe nhóm Nguyễn Phú Trọng nhằm trút hết trách nhiệm cuộc chiến biên giới cho Đặng Tiểu Bình và nhóm lãnh đạo cũ, để cho thấy sự “không can dự” của phe nhóm Tập Cận Bình mà Nguyễn Phú Trọng đang dựa vào. Nói cách khác, việc cho báo chí kể tội xâm lược nhân 40 năm cuộc chiến biên giới là một âm mưu tuyên truyền vừa ra vẻ ta đây yêu nước và chống hành vi xâm lược của nhóm Đặng Tiểu Bình, vừa biện minh cho thái độ thân thiện của Trọng với Tập Cận Bình mà không bị mang tiếng là thân với kẻ thù”. Với góc độ của một người dân, nhiều năm sống ở vùng biên cương của Tổ quốc, được chứng kiến cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979, xin được chia sẻ đôi điều.

Dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc giàu truyền thống đòan kết, nhân văn, hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia, luôn vun đắp cho nền hòa bình và sự tiến bộ chung của thế giới. Nhưng khi bị đe dọa về độc lập, chủ quyền lãnh thổ thì dân tộc Việt Nam quyết đoàn kết một lòng đứng lên đấu tranh để bảo vệ, gìn giữ. Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã huy động khoảng 60 vạn quân cùng 500 xe tăng, xe bọc thép, hàng ngàn khẩu pháo các loại… mở cuộc tiến công xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Khi đó, để bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh thổ, quân và dân Việt Nam đã anh dũng, kiên cường đứng lên đấu tranh. Với lòng yêu nước được hun đúc hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, với ý chí kiên cường, dũng cảm, với sự đoàn kết một lòng đã tạo nên sức mạnh to lớn giúp nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới phía Bắc. Ngày 5/3/1979, chính quyền Trung Quốc tuyên bố rút quân và ngày 18/3/1979, hoàn thành việc rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc, hàng nghìn chiến sỹ và nhân dân ta đã anh dũng ngã xuống để bảo vệ, gìn giữ độc lập, chủ quyền của dân tộc. Việc Trung Quốc mở cuộc tiến công dọc tuyến biên giới phía Bắc của Tổ quốc và những hy sinh mất mát của quân và dân ta trong cuộc đấu tranh này là sự thật lịch sử. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc năm 1979 là cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của quốc gia. Những sự thật lịch sử không thể bóp méo cũng không thể đảo ngược! Đã là chứng tích lịch sử thì không cần phải “cho phép” hay “không cho phép” thì nó vẫn là sự thật, không thể muốn làm cho “phai nhạt” hay “tô đậm” lên là được. Vì thế cho nên không có chuyện “bỗng dưng năm nay, Ban Tuyên Giáo CSVN lại cho phép báo đài tập trung viết về cuộc chiến biên giới và tô đậm hình ảnh xâm lược của Trung Cộng qua cuộc chiến này” như lời của Việt Tân.

Cho đến nay, cuộc đấu tranh bảo vệ bien giới phía Bắc đã trải qua 43 năm, quãng thời gian đó có thể coi là quá nửa đời người. Chúng ta đã chịu nhiều mất mát, hi sinh trong cuộc đấu tranh này. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi ghi nhớ, trân trọng sự hi sinh anh dũng của những người đã ngã xuống để bảo vệ nền độc lập tự do và chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Nhưng không vì thế mà chúng ta mang những điều trong quá khứ để quy tội hay áp đặt cái nhìn tiêu cực cho thế hệ sau này. Chúng ta chiến đấu là để chống lại sự xâm lược biên giới, lãnh thổ chứ không chiến đấu để chống nhân dân nước láng giềng. Hơn nữa, mọi thứ cần được đánh giá, nhìn nhận cho công bằng. Cuộc đấu tranh đã diễn ra cách nay 43 năm, nên  nó đã là quá khứ, lịch sử ấy thuộc về 43 năm về trước. Điều đó là rõ ràng. Chúng ta có nhắc lại lịch sử là để cho các thế hệ hôm nay và mai sau biết ơn và trân trọng sự hi sinh anh dũng của cha anh, đồng thời cũng là để trân trọng giá trị của hòa bình; chúng ta nhắc lại là để nhắc nhở cho các thế hệ hãy cùng nhau đoàn kết một lòng, giữ gìn truyền thống yêu nước, nhân văn, cùng vun đắp để hướng tới những điều tốt đẹp, xây dựng môi trường hòa bình, hữu nghị. Vậy thì làm gì có “ý đồ” hay “âm mưu” gì như Việt Tân cố tình suy diễn, xuyên tạc: “Đây là ý đồ gian manh của phe nhóm Nguyễn Phú Trọng nhằm trút hết trách nhiệm cuộc chiến biên giới cho Đặng Tiểu Bình và nhóm lãnh đạo cũ, để cho thấy sự “không can dự” của phe nhóm Tập Cận Bình mà Nguyễn Phú Trọng đang dựa vào”. Hơn nữa, Việt Nam có lãnh thổ riêng, chủ quyền riêng,mọi chủ trương, đường lối là do Đảng và nhà nước ta đề ra, phù hợp với đặc điểm tình hình và điều kiện của đất nước, nhằm mục đíchđể xây dựng một đất nước giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Vậy nên không thể nói Việt Nam “dựa vào” Trung Quốc dưới thời của Tập Cận Bình.

Dân tộc Việt Nam với bề dày lịch sử văn hóa mấy nghìn năm, vốn là dân tộc giàu lòng yêu nước, trải qua các cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sự đoàn kết dân tộc đã được hun đúc và chứng minh. Vì thế không cần phải dựa vào việc nhắc lại cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979 thì mới thể hiện được lòng yêu nước. Lòng yêu nước của dân tộc ta được kết tinh trong trái tim và huyết quản của mỗi người từ bao đời, bao thế hệ. Vì thế không cần phải mượn cớ gì để“làm ra vẻ ta đây yêu nước”, càng không phải là “một âm mưu tuyên truyền” như Việt Tân khẳng định.

Trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, việc Việt Nam mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước để thúc đẩy sự phát triển của đất nước cũng như đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc là nhiệm vụ hết sức cần thiết. Đảng ta đã xác định “nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế”. Trong mối quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Việt Nam đã có chiều dài 72 năm (18-1-1950 / 18-1-2022). Trong suốt quá trình đó, mối quan hệ giữa hai nước có những lúc thăng trầm, nhưng tựu chung vẫn là hữu nghị, hợp tác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, hợp tác cùng có lợi góp phần củng cố hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Như đã nói, truyền thống của dân tộc ta là nhân văn, hòa hiếu, chính vì vậy chúng ta không quên lịch sử nhưng cũng không mang quá khứ để soi chiếu vào hiện tại và tương lai để rồi có cái nhìn ác cảm, tiêu cực. Cuộc sống của mỗi người cũng vậy, chúng ta phải cùng nhau hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn. Cho nên mặc dù giữa nước ta với nước bạn còn những điều chưa thể thống nhất, nhưng những gì liên quan đến quyền lợi của quốc gia, dân tộc, đến chủ quyền, lãnh thổ thì chúng ta nhất định kiên quyết đấu tranh bảo vệ đến cùng, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng hòa bình và luật pháp quốc tế. Cùng với đó cần thiết đẩy mạnh quan hệ đối ngoại hợp tác để phát triển. Chính vì thế ở đây không có chuyện nhằm “biện minh cho thái độ thân thiện của Trọng với Tập Cận Bình mà không bị mang tiếng là thân với kẻ thù” như lời của Việt Tân.


Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2022

Dấu hiệu của kẻ “tâm thần chính trị”

 Trên mạng xã hội xuất hiện bài viết có nhan đề “Người Việt Nam đương đại có lý tưởng gì?” của Đoàn Bảo Châu, nếu chỉ nhìn vào cái title dễ làm người ta liên tưởng đến một nghiên cứu tầm cỡ của một học giả. Nhưng thật đáng tiếc, nó chỉ là những lập luận, dẫn chứng ngô nghê nhằm chửi bới, thóa mạ chế độ, đồng thời nó cũng không giấu đi được sự hả hê, hợm hĩnh của một kẻ nghĩ mình là người “nổi tiếng”. Xin được tìm hiểu đôi chút về nhân vật này. Đoàn Bảo Châu được giới thiệu là: Võ sư, nhà văn, kỹ sư cơ khí và máy tính, phóng viên tự do… Nói ngắn gọn, đây là một kẻ “liên tài”!


Đoàn Bảo Châu vốn xuất thân và hành nghề võ sư. Có lẽ kiếm ăn thì được, nhưng chưa nổi tiếng, thế là ông này nhảy sang viết văn ở tuổi 40. Nghe nói ông ta dùng tới 6 năm để hoàn thành cuốn tiểu thuyết “Khói”. Ngày sách ra đời, mấy cuộc họp báo giới thiệu sách được tổ chức ở những nơi sang trọng khác nhau. Các nhà phê bình được mời đến, các ông này lập tức trổ tài “khen cho mày chết”. Một ông bảo: “Khói được đọc liền mạch trong một đêm (gần 600 trang) và bị câu chuyện ám ảnh” (?). Còn ám ảnh cái gì, ở đâu thì ông không nói. Một ông khác lại phán: “Khói là sự dung hợp của bút pháp tự sự cổ điển và hiện đại của tác giả”. Kinh chưa! (Các cụ bảo nhau: Khen nhau như thế bằng mười hại nhau). Còn ông Chủ tịch Hội đồng văn xuôi khi đó quả quyết: “Khói ra đời cuối năm 2013 nên không thể đưa vào xét giải thưởng của Hội nhà văn trong năm, nhưng cuốn tiểu thuyết này sẽ là một ứng cử viên nặng ký cho mùa giải năm 2014”. Nhưng hỡi ôi! “Khói” của ông Đoàn Bảo Châu đã bay theo gió cùng với những lời có cánh của các nhà phê bình trong lúc trà dư, tửu hậu. Mùa xét giải năm 2014 của Hội Nhà văn, chẳng ai nhớ tới ứng cử viên nặng ký “khói” của Đoàn Bảo Châu đâu nữa.

Cố đọc cho hết “khói” cũng không thể không nín cười khi nhớ lại lời của nhà phê bình Bùi Việt Thắng trong buổi ra mắt sách. Sau khi vẫn dùng những lời có cánh như thường lệ, ông vẫn phải buông: “Do Đoàn Bảo Châu giỏi ngoại ngữ nên câu văn rất Tây, ngôn ngữ không biến hóa, nên cứ miêu tả khói là lại “bập bùng”. Xin lỗi, chắc nhà phê bình khen tác giả “giỏi ngoại ngữ” để nói tránh, hoặc không nỡ nói: Chú mày chỉ mạnh cơ bắp nên đến khói mà cũng bập bùng! Riêng Đoàn Bảo Châu tự sướng khi chia sẻ trên Facebook thế này: “có một ông anh nói với tôi rằng: Anh ám ảnh bởi Khói. Nó rất lạ và rất đời. Anh tin rằng em sẽ khó viết được cuốn thứ hai tốt hơn, vì em đã dốc cạn vốn rồi”. Ông anh nói chuẩn quá. Mình cảm thấy đúng như vậy nhưng cũng hy vọng không phải vậy”! Thưa các nhà văn đáng kính, dẫu biết rằng “văn mình, vợ người” nhưng mà hão huyền và hợm hĩnh thế này thì không ai chịu được. Có lẽ chưa thấy đủ Ep-phê với vụ Khói, 3 năm sau, năm 2017 Đoàn Bảo Châu thách đấu với cao thủ Vinh Xuân Pierre Francois Florens gây xôn xao dư luận. Tuy không trái quy định thách đấu nhưng người ta khó hiểu khi ông ta làm việc này, vì ngoài vấn đề đai đẳng, cao thủ Vinh Xuân cao 1,91m nặng hơn 90 kg còn ông này chỉ 1,61m nặng 60 kg. Xem clip thì thấy, Đoàn Bảo Châu không có được một miếng đòn nào thể hiện đẳng cấp võ sư, chỉ loáy ngoáy được vài thế võ lèo khèo và chỉ hơn 1 phút đã bị cao thủ Vinh Xuân đá cho ngã sấp mặt. Thất bại ê chề, toàn diện nhưng Đoàn Bảo Châu đã “gặt hái” được một thứ hết sức quan trọng mà ông ta muốn đó là: sự “nổi tiếng”, cách nổi tiếng theo kiểu Đen Vâu, Khá Bảnh vừa làm. Lướt qua Facebook ChauDoan gần đây người ta thấy ông ta đã tìm ra được “lý tưởng” hay nói đơn giản hơn là “con đường” chống Đảng, đả kích chính quyền…  

Trở lại bài viết của kẻ hợm, hão và láo xược Đoàn Bảo Châu. Trước hết, xin bàn về lý tưởng là gì? Lý tưởng sống của con người là gì? Nhà cơ bắp, võ sư Đoàn Bảo Châu ngay khi mở bài đã viết: “Tôi biết, từ “lý tưởng” có vẻ xa vời, mơ mộng và cao siêu với người việt Nam đương đại” và “Với tầng lớp lao động thì càng xa vời bởi điều họ ao ước là xây được nhà, con cái được học hành, xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái để rồi mỗi dịp giỗ tết, chúng sẽ thắp nén hương cho tổ tiên. Đời chỉ có vậy. Nghĩ xa xôi làm gì? Viển vông vô ích! Chính vì vậy mà ở nông thôn Việt Nam, con cái được vào ngành công an là tự hào ghê lắm. Vừa oai, vừa có tiền, ai chẳng thích?”. Điều này càng chứng tỏ Đoàn Bảo Châu thích “lập ngôn”, nhưng cái đầu lại rỗng tuếch, không hiểu gì một khái niệm cơ bản. Lý tưởng là mục đích cao nhất, tốt đẹp nhất mà người ta phấn đấu để đạt tới. Lý tưởng được hiểu là giá trị, nguyên tắc một định hướng và suy nghĩ tích cực cho mục tiêu của mình, đồng thời giữ cho mục tiêu đó luôn quan trọng nhất, cao nhất so với những mối quan tâm nhỏ nhặt bên ngoài khác. Một người luôn giữ vững định hướng của mình dù có bao nhiêu tác động cũng không thay đổi là người có lý tưởng của bản thân. Lý tưởng của một người không cần phải quá cao siêu, phải đem lại nhiều giá trị cho xã hội, phải ghi tên mình vào bảng vàng dân tộc, hay phải “nổi tiếng” như cách mà Đoàn Bảo Châu đã làm mấy năm vừa qua, mà có thể rất đơn giản như “cả đời phải trở thành một người lương thiện”. Đoàn Bảo Châu đã hiểu sai “lý tưởng sống” sang “nhu cầu sống”. Mà những nhu cầu sống của người lao động như ông viết đâu có gì sai, xấu, hàng triệu người trên hành tinh này cũng chỉ cần có vậy. Còn việc ông cho là “con cái được vào ngành công an…” cho oai, cho có tiền, thì đó chỉ là cách tư duy theo kiểu “từ bụng ta suy ra bụng người”, xin không chấp.


Thứ hai, ông Châu cho rằng: “Tiếc thay, với tôi thì hình như mấy triệu đảng viên cũng có vẻ chẳng có lý tưởng gì cao siêu và đẹp đẽ. Họ vào đảng không phải với khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước mà để vinh thân phì gia, để có một tấm vé bước vào đường quan lộ, trong lòng rỗng tuếch lý tưởng nhưng giả vờ tin, giả vờ hô để hưởng lợi”. Đây lại là một sự quy chụp vô lối, cố tình xuyên tạc, bôi nhọ Đảng của Đoàn Bảo Châu. Không phủ nhận thời gian qua vẫn còn một bộ phận cán bộ đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái, vi phạm pháp luật đã bị phát hiện và điều tra, xử lý. Song phảikhẳng định, chưa bao giờ công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng được đặt ra cấp bách và khẩn thiết như ngày nay. Đó cũng là thể hiện một thái độ đúng đắn, nghiêm túc, dám và biết nhìn thẳng vào sự thật, một tinh thần chiến đấu không khoan nhượng nhằm bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mỗi đảng viên không ngừng tự giác, rèn luyện học tập, tu dưỡng để nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống với phương châm suốt đời phụng sự Tổ quốc và Nhân dân, lấy ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm lý tưởng hành động. Nhiều tấm gương tích cực, điển hình về lối sống, nhân cách của cán bộ, đảng viên được nhân rộng. Đặc biệt là trong những lúc đất nước gặp thiên tai, dịch bệnh như thời gian qua. Việc làm, hành động của họ góp phần củng cố, tăng cường niềm tin, mối quan hệ giữa Đảng với dân.

Đoàn Bảo Châu tự khoe là một võ sư nhưng có lẽ thiện hạ chỉ biết đến ông này khi bị đá sấp mặt chỉ trong hơn 1 phút thượng đài. Đã thế lại tập tọe lập ngôn bằng cách viết văn, chắc cũng để tự sướng. Cả hai lĩnh vực này Đoàn Bảo Châu đều làm xấu mặt văn đàn và võ đài Việt Nam. Nhưng từ khi “nổi tiếng” và bị đá sấp mặt thì kẻ này lại lảm nhảm viết bài đả kích Đảng, chống phá đất nước như một kẻ bị bệnh “tâm thần chính trị” thì không thể chấp nhận được. Có lẽ cần phải có một biện pháp hay chế tài để xử lý với kẻ lộng ngôn, nửa ông nửa thằng này./.

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

Cảnh giác với những “chiêu trò” hiện nay

         Năm 2021 với tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp trên thế giới và tại Việt Nam, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống, kinh tế và xã hội của mỗi nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam của chúng ta.

       


Trong tình hình đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã có nhiều quyết sách hiệu quả, cùng với sự đồng sức, đồng lòng của toàn dân chúng ta đã khống chế dịch bệnh, khôi phục kinh tế, từng bước ổn định đời sống, việc làm cho nhân dân. Tết nguyên đán Nhâm Dần của nước ta đã được tổ chức đạt mục tiêu đề ra đó là an ninh, an toàn, an dân, điều đó đã được Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định tại cuộc họp đầu tiên của Thường trực Chính phủ trong năm mới Nhâm Dần 2022. Là những người dân Việt Nam, qua theo dõi các thông tin, qua thực tế tại địa phương và qua thông tin từ những người thân, bạn bè, chúng ta đều nhận thấy điều đó. Thế nhưng cũng có kẻ bày trò, cố tình có những suy diễn méo mó để hòng gieo rắc những lời lẽ tiêu cực làm người đọc nhẹ dạ, cả tin hiểu lầm, làm ảnh hưởng đến lòng tin của người dân với chế độ, với đất nước như Nguyễn Thị Thanh Bình trong bài viết: “Tết năm nay sao buồn quá”. Bình ca thán rằng “nhìn chung bức tranh Tết mình thật xám ngoét”, nhưng thực tế cho thấy từ những ngày gần Tết, không khí trang trí, sắm sửa chuẩn bị cho ngày tết cổ truyền được diễn ra khắp nơi. Đảng, Chính phủ và các cấp các ngành đều rất quan tâm chăm lo tết cho nhân dân. Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan, địa phương đều đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức triển khai công tác chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 an toàn, tri ân, nghĩa tình, vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm với tinh thần “không để ai không có Tết”. Tổng kinh phí chăm lo đời sống các đối tượng chính sách, người lao động dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần là 8.324 tỉ đồng cho 57,81 triệu lượt đối tượng. Các tỉnh, thành phố đã trợ giúp ước tính khoảng 3.745 tỉ đồng hỗ trợ chăm lo Tết cho người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và người lao động. Thủ tướng Chính phủ đi ban hành 3 Quyết định hỗ trợ tổng số gần 19.000 tấn gạo cứu đói cho 1.245.830 nhân khẩu dịp Tết và giáp hạt đầu năm 2022 cho 18 tỉnh; đã quyết định xuất cấp tổng số hơn 3.738 tấn gạo cứu đói cho 43.898 hộ với 210.954 nhân khẩu cho 3 tỉnh bị ảnh hưởng bởi mưa, lũ cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 2021. Theo thống kê tiền lương bình quân của người lao động năm 2021 ước đạt 7,84 triệu đồng, tăng 4% so với năm 2020 (7,54 triệu đồng/tháng). Tiền thưởng Tết Dương lịch 2022 bình quân là 1,36 triệu đồng người, bằng 58% so với năm 2021. Tiền thưởng Tết Nguyên đán Nhâm Dần bình quân 6,17 triệu đồng/người, bằng 97% so với năm 2021. Giao thông vận tải thông suốt. Tình hình thị trường ổn định. Các hoạt động sản xuất, dự trữ nguồn hàng phục vụ Tết được triển khai chủ động trước Tết nên lượng hàng hóa dồi dào, chủng loại đa dạng, hình thức mẫu mã đẹp, hàng hóa được tổ chức lưu thông thông suốt trên địa bàn cả nước, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết của người dân, không xảy ra thiếu hàng, tăng giá bất hợp lý. Như vậy có thể nói, mặc dù trong điều kiện bị ảnh hưởng của dịch bệnh nhưng công tác an sinh xã hội được các cấp, các ngành, các địa phương triển khai tích cực, hiệu quả để nhân dân đón Tết tri ân, nghĩa tình, vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm và phù hợp điều kiện từng địa phương, đối tượng, không để ai, không để gia đình nào không có Tết, không hề “xám ngoét” như Thanh Bình suy diễn.

Từ việc vẽ ra bức tranh Tết đầy tiêu cực, Thanh Bình đã tinh vi dẫn dắt, đánh lừa để người đọc bị cuốn theo những lời lẽ bịa đặt, xuyên tạc của Thị ta: “Chưa kể nhìn đâu cũng thấy mọi người đã quá khánh kiệt niềm tin, và không biết tìm kiếm nơi đâu, níu áo ai đây để lấy lại… sao mà ‘nản chí anh hùng’ mục ruỗng từ trên xuống, làm sao cứu vãn những chiếc bình vỡ”. Thật là một chiêu trò tinh vi của những kẻ xấu xa, nếu người đọc không tỉnh táo thì rất dễ bị dẫn dắt, đánh lừa, dẫn đến hoang mang, hoài nghi, làm suy giảm lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước. Nhưng bọn chúng đã lầm, lòng tin của nhân dân với Đảng đã được xây dựng trên nền tảng vững chắc và được kiểm nghiệm qua thực tế. Dù các thế lực thù địch có xuyên tạc hay bôi đen thế nào lòng dân tin Đảng vẫn là sự thật không thể phủ nhận. Lòng tin ấy ngày càng được củng cố, được phát huy, bởi mỗi người dân Việt Nam yêu nước, yêu quê hương, tha thiết với một tương lai tốt đẹp của đất nước.

Những kẻ xấu, các thế lực thù địch luôn lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mỗi người chúng ta cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo để không bị bọn chúng lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ mà vô tình ủng hộ, chia sẻ, lan truyền những thông tin phản động, độc hại trên mạng xã hội. Đồng thời chúng ta cùng nhau lên án hành vi của những kẻ xấu, cùng đoàn kết một lòng bảo vệ, giữ gìn cuộc sống bình yên, tốt đẹp mà chúng ta đang có, không cho bất kỳ kẻ nào làm ảnh hưởng đến cuộc sống yên bình của chúng ta.

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

Nguyên hình "Cáo" - Sự giải rối và bộ mặt thật

 “Đảng: Thuyết tương đối chẳng là gì” là tên bài viết đăng trên Việt Nam Thời Báo, ngày 15/02/2022 của Nguyễn Huyền. Bài viết cho rằng: “Thể chế chính trị ở Việt Nam luôn khẳng định về tính tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam “mãi mãi là sao sáng dẫn đường”. Nguyễn Huyền lấy sự kiện Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện chương trình giao lưu chính luận nghệ thuật với chủ đề: “Mãi mãi là sao sáng dẫn đường” để chào mừng 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2022) vào tối 12/02, để khẳng định điều đó. Họ nhìn chương trình giao lưu chính luận nghệ thuật với chủ đề “Mãi mãi là sao sáng dẫn đường” qua lăng kính thuyết tương đối nổi tiếng của Albert Einstein, rồi kết luận: “nếu chấp nhận Đảng Cộng sản Việt Nam “mãi mãi là sao sáng dẫn đường”, có nghĩa những người cộng sản Việt Nam đeo đuổi “chủ nghĩa tuyệt đối” để cho rằng các tiêu chuẩn mà Đảng đưa ra luôn luôn đúng…”. Ô hay, thế hóa ra, từ khi có thuyết tương đối của Albert Einstein đến nay, thì mọi thứ đều luôn luôn sai à? Đành rành, chỉ có chân lý tương đối mà không có chân lý tuyệt đối, bởi nhận thức của con người luôn có giới hạn, nhưng để bác bỏ được chân lý dù là tương đối cũng đòi hỏi phải mất rất rất nhiều thời gian. Ngay cả cái thuyết tương đối của Albert Einstein mà Huyền dẫn ra làm căn cứ cũng là tương đối. Bởi đến ngày nào đó, với sự phát triển của khoa học, nhận thức hiện nay về thuyết đó lại không còn phù hợp nữa thì sao? Cứ theo “thuyết tương đối của Huyền” thì thân thể của y cũng chỉ là tương đối, lúc là hình thằng người, khi là hình của loài bốn chân sao? Huyền đang tồn tại là tuyệt đối, chỉ khi nào Huyền về chầu ông bà ông vải thì mới nói là đã chết. Vậy, khi Huyền đang lù lù một đống trên trần thế mà lại nói là đã chết thì mới đúng à? Triết lý của Huyền là vậy đó. Như thế, có phải thần kinh Huyền có vấn đề không? Thế mà chủ đề của chương trình giao lưu chính luận nghệ thuật với chủ đề: “Mãi mãi là sao sáng dẫn đường” để chào mừng 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam lại không đúng sao?

Huyền viết tiếp: “…nếu Đảng luôn tự cho mình “đúng trong mọi trường hợp”, và, “mãi mãi là sao sáng dẫn đường”, thì xem ra ví von này sẽ tác dụng ngược khi ai đó nhận xét về ngôi sao sáng ấy trong nhiều lúc, thì đó chính là “sao chổi” – và trong truyền thuyết cổ nhất mà con người được biết là “Sử thi Gilgamesh” (vị vua xứ Babylon năm 2.600 trước công nguyên) thì người ta từng đọc thấy những mô tả về bầu trời rực cháy, khí quyển đầy lưu huỳnh và những trận lũ lụt đi kèm sự xuất hiện của sao chổi…”. Đến đây thì con cáo của Huyền đã hiện nguyên hình. Nói gần nói xa, Huyền lại quay về phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vậy, xin điểm qua vài nét để bác bỏ điều phủ nhận của Nguyễn Huyền.

Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra sôi nổi, không ngừng khắp Bắc, Trung, Nam. Đó là phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế, cuộc vận động chống thuế Trung Kỳ, cuộc vận động Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, các phong trào Đông Du, Tây Du do các sĩ phu yêu nước chủ xướng, cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc dân Đảng tiến hành, v.v. Các phong trào kể trên đều sáng ngời tinh thần yêu nước, bất khuất, song tất cả đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại. Đó là sự bế tắc và thất bại về đường lối cứu nước. Và như vậy, tất cả các phương án chính trị của các giai cấp đều đã đưa ra và được lịch sử khảo nghiệm: từ đường lối cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, đến những đường lối theo lập trường nông dân, lập trường tiểu tư sản, lập trường tư sản. Đường lối của Việt Nam Quốc dân Đảng theo hệ tư tưởng tư sản tưởng chừng có cái mới, tích cực nhất lúc bấy giờ, nhưng qua khởi nghĩa Yên Bái bùng lên đã tắt ngấm vĩnh viễn chỉ còn để lại dư âm câu nói vô vọng của lãnh tụ Nguyễn Thái Học “sát thân thành nhân”. Rõ ràng “tình hình đen tối như không có đường ra”.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám, Đảng và nhân dân ta thiết tha mong muốn hòa bình để xây dựng đất nước, song bọn thực dân, đế quốc đã đem quân xâm lược nước ta một lần nữa. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, nhân dân ta đã phải tiến hành 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, 20 năm chống đế quốc Mỹ. Chưa hết, 4 năm sau đó quân dân ta phải tiếp tục đổ máu từ chiến tranh biên giới để bảo vệ Tổ quốc. Với chiến thắng oanh liệt mùa Xuân năm 1975, cả nước độc lập, thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đạt thành tựu to lớn trên tất cả các mặt, nhất là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới đến nay.  

Về kinh tế, nhờ công cuộc đổi mới mà kinh tế nước ta tăng trưởng trung bình khoảng 07% mỗi năm trong suốt 35 năm qua. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước liên tục được nâng lên, từ 6,3 tỉ USD (năm 1989) lên 342,7 tỉ USD (năm 2020), đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư trong ASEAN. Kim ngạch xuất khẩu năm 1990 mới chỉ 2,4 tỉ USD, thì năm 2020 đã lên hơn 280 tỉ USD (tăng gần 117 lần trong vòng 30 năm). Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của đất nước phát triển khá nhanh với nhiều công trình lớn, hiện đại, làm cho diện mạo của đất nước có nhiều tiến bộ. Năm 2021, mặc dù chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, nhưng nhờ thực hiện Nghị quyết 128/NQ-CP, ngày 11/10/2021 của Chính phủ về “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Chỉ sau một tháng thực hiện Nghị quyết này, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2021 đã tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 11 tháng năm 2021, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2020. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tháng 11 so với tháng trước tăng 44,6% về số doanh nghiệp, 38% về vốn đăng ký, 30,2% về số lao động. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục phục hồi. Tính đến ngày 20/11/2021, vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 26,46 tỉ USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 11 tháng năm 2021 vẫn duy trì tốc độ tăng cao, đạt 599,12 tỉ USD, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt  299,67 tỉ USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước. Nhờ kinh tế phát triển, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, đến năm 2020 đạt 3.521 USD, đứng thứ sáu trong ASEAN.

Về xã hội, tiến bộ và công bằng xã hội đạt nhiều kết quả ấn tượng, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Các vấn đề an sinh xã hội luôn được quan tâm chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% (năm 1993) xuống còn 5,8% (năm 2016) và dưới 03% (năm 2020) theo chuẩn nghèo đa chiều của Chính phủ. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; quan tâm hơn giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chất lượng nguồn nhân lực có sự cải thiện đáng kể, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 40% (năm 2010) lên khoảng 65% (năm 2020). Tỷ lệ đô thị hóa đạt gần 40%, vượt chỉ tiêu đề ra. Xây dựng nông thôn mới hoàn thành trước thời hạn gần 02 năm; đến cuối năm 2020 có 63% số xã đạt chuẩn, vượt mục tiêu đề ra (50%). Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 76,5% (năm 2015) lên 90,7% (năm 2020). Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng gần 46% từ năm 1990 đến năm 2019, nằm trong số các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất trên thế giới. Năm 2019 HDI của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước phát triển con người cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển về kinh tế.

Đánh giá về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo đất nước, mới đây, tờ Business Times (Singapore) trong bài viết “Tiếng gầm của một con hổ mới châu Á – Roar of a new Asian tiger”, nói về Việt Nam đã viết: “Từng nằm trong số các quốc gia nghèo nhất trên thế giới, nền kinh tế của quốc gia này hiện đang phát triển vượt bậc. Ngân hàng Thế giới mô tả đây là một trong những quốc gia mới nổi và năng động nhất trong toàn bộ khu vực Đông Á”. Thiết nghĩ điều đó đã bác bỏ cách nói vô căn cứ của Nguyễn Huyền./.

Thứ Năm, 3 tháng 2, 2022

Bảo vệ lịch sử Đảng là “ăn quả nhớ người trồng cây”!


1. Lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở chúng ta về công ơn của Đảng, biết trân trọng, bảo vệ “pho lịch sử bằng vàng”[i] như bảo vệ báu vật của dân tộc, tài sản của quốc gia. Bởi lẽ, pho sử bằng vàng ấy ngày càng được vun đắp, tô thắm, ghi lại những chiến công hiển hách, những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam; thể hiện phong phú, sinh động cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất của Nhân dân ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng để bảo vệ Đảng, không những là bảo vệ nền tảng tư tưởng, thành quả cách mạng, tổ chức và cán bộ, đảng viên của Đảng, mà còn là bảo vệ thanh danh, uy tín của Đảng đối với Nhân dân và củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng, chế độ.

Trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảngphủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin; kêu gọi từ bỏ lý tưởng cộng sản và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo, công lao, đóng góp của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; xuyên tạc và phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam; thổi phồng sai lầm, khuyết điểm; xuyên tạc đoàn kết nội bộ Đảng và thân thế, sự nghiệp, tư tưởng cách mạng, đời tư của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thanh niên, sinh viên cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về lịch sử Đảng để “tự miễn dịch” và tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng. Các tổ chức cơ sở Đảng, Mặt trận, chính trị – xã hội, thanh niên, hội sinh viên tăng cường tổ chức hội thảo, tọa đàm; xây dựng chuyên đề lồng ghép vào sinh hoạt thường kỳ, câu lạc bộ, đội nhóm; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, diễn thuyết, kể chuyện về tấm gương cán bộ, đảng viên chiến đấu, hy sinh anh dũng, bị tù đày, tìm cách vượt ngục, phong thái hiên ngang khi ra pháp trường; tổ chức viết bài đấu tranh (chính danh và ẩn danh)… Đặc biệt coi trọng đấu tranh trực diện trên không gian mạng với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, hấp dẫn, hiệu quả: bài viết, thơ văn, chế nhạc, video clip, tranh ảnh, bình luận/chia sẻ thông tin; tranh thủ những người có ảnh hưởng lớn với cư dân mạng để thông qua họ đưa tin về cái tốt, phản đối cái xấu.

2. Tri thức lịch sử, trong đó có lịch sử Đảng cung cấp hiểu biết quá khứ để phục vụ cuộc sống hiện tại và đoán định tương lai. Bởi vậy, các nhà sử học Hy Lạp cổ đại từng kết luận: “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống, là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”. C.Mác và Ph.Ănghen có quan niệm: Sử học là khoa học duy nhất vì mọi khoa học đều phải dựa vào sự kiện từ lịch sử. Đến V.I. Lênin khẳng định: Sử học là một bộ phận của khoa học xã hội kết hợp với giai cấp vô sản trở thành vũ khí mạnh mẽ. Lãnh tụ Hồ Chí Minh từng làm nghiên cứu sinh chuyên ngành lịch sử khi ở Liên Xô và đã căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta”[ii].

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi trở thành nhà quân sự lỗi lạc, vốn là thầy giáo dạy lịch sử ở trường phổ thông. Nhà văn Nga Trécnưsepki từng viết: “Có thể không biết, không cảm thấy say mê học tập môn toán, tiếng Hy Lạp hoặc Latinh, môn hóa học, có thể không biết hàng nghìn môn khoa học khác, nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí tuệ”[iii]. Thậm chí, Tom Polgar – nhân viên cao cấp tòa đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản khỏi Việt Nam năm 1975, sau này đã viết: “Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử”[iv]. Quân phong kiến phương Bắc ba lần thất bại trước một cách đánh của quân nước Việt trên sông Bạch Đằng (các năm 938, 981, 1288) cũng có nguyên nhân thiếu thành thật với quá khứ.

3. “Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc sống an bình hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của Nhân dân ta… Máu đào của các liệt sĩ ấy làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”[v]. Lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng nhắc nhở chúng ta phải nâng cao tránh nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, kiên quyết bảo vệ “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng; vững tin vào thắng lợi con đường cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Lê Mật

[i] Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Nxb CTQG, HN, tập 12, tr.401-406.

[ii] Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Nxb CTQG, HN, tập 3, tr.255.

[iii] Phan Ngọc Liên (1983): Chỉ tịch Hồ Chí Minh với công tác sử học, Nxb Giáo dục, HN, tr.8,30,31

[iv] https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/xuyen-tac-lich-su-chinh-la-pha-hoai-tuong-lai-572280

[v] Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Nxb CTQG, HN, tập 12, tr.401.