Kết quả cuộc bỏ
phiếu tín nhiệm đối với 44 cán bộ cấp cao tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV diễn
ra ngày 25/10/2023 vừa qua, được dư luận xã hội trong nước và quốc tế rất quan
tâm và đánh giá là tích cực. Ấy vậy mà những “cái lưỡi không xương” vốn quen chọc
ngoáy, lại thiên thẹo cho rằng, những người được phiếu tín nhiệm cao đều là những
vị giữ chức vụ cao nên người bỏ phiếu có sự nể nang; rằng “Quốc hội chỉ là cái đuôi
của Đảng, phải làm theo Đảng, vì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 đã
lấy phiếu tín nhiệm trước đó, các vị ấy đều thuộc nhóm tín nhiệm cao rồi”; rằng
“qua 4 kỳ lấy phiếu cũng chỉ là hình thức, đánh lừa dân là dân chủ thôi, vì sau
mỗi lần như vậy thì chẳng có vị nào phải thôi chức, mặc dù dư luận đã xì xào
ông nọ, bà kia có vấn đề, lần này phải được xem xét về năng lực và phẩm chất”,
v.v và v.v…
Để
làm rõ những luận điệu nêu trên, xét thấy cần chỉ ra sự lươn lẹo, cố tình “cắt đầu
xén đuôi” những văn bản nói rõ mục đích, tiêu chuẩn, cách làm để thực hiện cuộc
bỏ phiếu tín nhiệm này ở cả Trung ương Đảng và Quốc hội bảo đảm sự khách quan,
công tâm và minh bạch. Thiết nghĩ, cần dẫn ra đây Quy định số 96-QĐ/TW ngày
1/2/2023 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam mà các vị cố tình phớt lờ, một
văn bản căn cốt, có nội dung và phương châm tiến hành rất khoa học, sát hợp thực
tiễn tình hình hiện nay. Theo Quy định 96, những trường hợp “có trên 50%, nhưng
dưới 2/3 số tín nhiệm thấp thì cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ đưa ra khỏi quy
hoạch các chức vụ cao hơn, xem xét cho thôi giữ chức vụ đang đảm nhận, bố trí
công tác khác, hoặc cho từ chức”. Nhưng kết quả hai đợt bỏ phiếu ở Ban Chấp
hành Trung ương và Quốc hội vừa rồi, đều không có vị nào thuộc diện quy định
nói trên. Vậy các ông muốn lật ngược một thực tế mà cả hai cơ quan quyền lực của
Đảng và Quốc hội đã tiến hành nghiêm túc, cẩn trọng để làm vừa lòng các ông,
thì đấy mới là “dân chủ thực chất và đáp ứng nguyện vọng của số đông” ư?!
Thứ hai, các ông đã quên hoặc cố
tình tảng lờ một mục đích nhân văn của các đợt lấy phiếu tín nhiệm này là giúp
cán bộ “tự soi”, “tự sửa” và “không để cán bộ tín nhiệm thấp giữ chức vụ lâu”.
Như vậy, giữa cái lý và cái tình của một
số chủ trương, được đông đảo cán bộ và nhân dân đồng tình; trong khi đó, các
ông chỉ hong hóng chờ sau bỏ phiếu có dăm vị phải rời ngay chức vụ thì đấy mới
là biểu hiện “dân chủ” và “đáp ứng mong mỏi của nhân dân”(!) Xin thưa, kiểu lập
luận này thực chất là sự kích động, chia rẽ và phân tâm xã hội – mà từ lâu rồi,
điều này đã thấm vào máu các ông, do đó, bất cứ sự kiện nào trong đời sống kinh
tế, chính trị của Việt Nam, các ông đều muốn “bẻ lái” theo ý cá nhân, thì mới
làm các ông hả lòng, hạ dạ?!
Thứ ba, các ông quên đi một câu ngạn
ngữ của Việt Nam “thấy cây mà không thấy rừng”, chỉ một hiện tượng nhỏ,
các ông tập trung thổi phồng, khuếch đại; trong khi dư luận của số đông thì các
ông lại làm ngơ, hoặc cố tình không đếm xỉa? Xin dẫn ra đây mấy bình luận của một
tờ báo quốc tế chung quanh việc lấy phiếu tín nhiệm này.
Trang bnn.netwword (Hồng Kông) cho rằng,
việc làm này “thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm giải trình vì các nhà lãnh
đạo phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Sức mạnh của cuộc bỏ phiếu tín
nhiệm thậm chí còn vượt ra ngoài phạm vi Quốc hội, khuyến khích sự tham gia của
công chúng vào tiến trình chính trị, thúc đẩy đối thoại giữa Chính phủ và người
dân, đồng thời thúc đẩy một nền dân chủ toàn diện và bao trùm hơn. Mặc dù chỉ
riêng việc bỏ phiếu tín nhiệm chưa thể đánh giá tổng thể, cung cấp những hiểu
biết sâu sắc về lòng tin của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ có thể vận dụng kết
quả cuộc bỏ phiếu này để nâng cao niềm tin vào sự lãnh đạo của mình và giải quyết
mọi quan ngại và vấn đề nảy sinh”. Vậy các ông nghĩ gì về bình luận này?
Cuối cùng, xin được hỏi: các ông hay
dùng từ “lòng dân” để phê phán các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Nhưng xin hỏi nhân dân mà các ông dẫn ra là nhân dân nào, hay là do chính các ông tưởng tượng
ra, rồi lu loa để thỏa mãn sự vu cáo đê hèn? Nên nhắc lại rằng, 500 đại biểu Quốc
hội các khóa đều do cử tri – những người đại diện cho nhân dân cả nước lựa chọn
bầu ra để hình thành nên Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước và cũng
là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Do vậy, mượn từ nhân dân để nói những điều xằng bậy, là các ông tự
phơi bày sự vô liêm sỉ, một biểu hiện xúc phạm trắng trợn và nghiêm trọng đối với
danh dự của nhân dân Việt Nam, mà chính ông Tổng thống Mỹ Joe Biden vừa sang thăm
Việt Nam tháng 9 vừa rồi, đã phải thốt lên rằng: “tôi rất có thiện cảm và nể phục
một dân tộc anh hùng và thiện chí, đã sẵn sàng gác lại quá khứ, xóa bỏ hận thù,
hướng tới tương lai, nâng tầm quan hệ Việt Nam lên tầm đối tác chiến lược toàn
diện vì lợi ích lâu dài, nhiều mặt của cả hai nước, hai dân tộc”.
Có lẽ
chẳng cần bình luận thêm vì sự việc đã rõ như ban ngày. Mong các "Ngài" hãy chấm dứt
ngay cái thủ đoạn đê hèn chuyên “gắp lửa bỏ tay người” để thỏa mãn mưu đồ xấu
xa là đi ngược lợi ích của nhân dân và đất nước Việt Nam!./.
Ngày 23/8, trang facebook Đài Á Châu Tự Do (RFA) đăng bài:“Việt Nam “quản chặt” các tín đồ tôn giáo độc lập”.Trong bài viết, họ cho rằng:“Ở Việt Nam, những người muốn sinh hoạt tôn giáo một cách độc lập luôn đối mặt nguy cơ bị chính quyền ngăn cản, sách nhiễu. Nhiều tín đồ tôn giáo độc lập là người bản địa cho biết họ thậm chí bị đàn áp ngày càng nặng nề hơn”.
Đây lại là một luận điệu xuyên tạc trắng trợn những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và thực tiễn sinh động về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.
Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời, là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Cùng với quá trình đổi mới đất nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến mới. Đảng, Nhà nước luôn bảo đảm và tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động tôn giáo của tất cả các tôn giáo được diễn ra bình thường. Đặc biệt, những ngày lễ trọng của các tôn giáo, như: lễ Phật đản, lễ Vu lan của Phật giáo; Lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành; Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung, Lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài; lễ hội Katê của đồng bào Chăm; tháng chay Ramadan của người Hồi giáo,… được tổ chức với quy mô lớn, thu hút đông đảo tín đồ tham dự.
Việc công nhận tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được thực hiện theo quy định của pháp luật. Sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) đi vào cuộc sống, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã công nhận 01 tổ chức tôn giáo (Giáo hội Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam), cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 03 tổ chức (Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam; Hội thánh Tin lành Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam; Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê-su Ky-tô Việt Nam). Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung trên phạm vi cả nước được tạo điều kiện thuận lợi với gần 4.000 điểm, nhóm được chấp thuận. Các tổ chức tôn giáo hoàn toàn chủ động trong việc củng cố tổ chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành theo Hiến chương, Điều lệ và quy định của pháp luật.
Hằng năm, số lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp không ngừng tăng, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, hiện cả nước có hơn 6.500 người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; hơn 16.780 người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc. Cùng với đó, Nhà nước còn bảo đảm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện tham gia vào đời sống chính trị xã hội, tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa ở tất cả các cấp từ Trung ương đến cơ sở và tích cực tham gia các hội, đoàn thể khác, như: Hội Người cao tuổi Việt Nam, Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi Việt Nam, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, v.v. Đây là những minh chứng thực tiễn sinh động, chân thực, trái ngược với luận điệu quy chụp, xuyên tạc, lố bịch, rằng: “Những người muốn sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam luôn đối mặt nguy cơ bị chính quyền ngăn cản, sách nhiễu... bị đàn áp ngày càng nặng nề hơn”.
Còn luận điệu mà RFA gọi là “tín đồ tôn giáo độc lập”, thực chất là tập hợp các phần tử cực đoan trong các tôn giáo, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị, các phần tử phản động lưu vong ở nước ngoài,... lợi dụng vỏ bọc tôn giáo, để hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước dưới các hình thức: kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ nội bộ các tôn giáo, phá hoại sự ổn định, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo; kích động các hoạt động chống phá gây phức tạp về an ninh, trật tự; móc nối với các tổ chức phản động bên ngoài nhằm mục hóa, chính trị hóa những vấn đề trong nước,... nhằm thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận quốc tế từ đó gây sức ép với chính quyền để đáp ứng các yêu cầu của các tổ chức, hội nhóm này. Vì vậy, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, Nhà nước Việt Nam nghiêm cấm mọi tổ chức lợi dụng tôn giáo, đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo luật định. Đó là lẽ đương nhiên./.
1. Do sự biến
đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới nên phương thức dùng bạo lực,
chiến tranh xâm lược nước khác đã trở nên lỗi thời. Vì vậy, thay thế phương thức
này, “diễn biến hoà bình” được phương Tây xác định là chiêu thức mới, “độc
chiêu”, “đặc biệt hiệu quả” để áp đặt các giá trị “tự do”, “dân chủ” và “nhân
quyền” của phương Tây vào Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.
Với
toan tính chuyển hoá các nước theo quỹ đạo của CNTB, phương Tây thực hiện tham
vọng sắp đặt lại trật tự thế giới mà họ làm “bá chủ”, thống trị hành tinh. Với
chiêu thức này, phương Tây đã ngộ nhận rằng, họ “đứng trên tất cả”, là “trung
tâm văn hoá” của nhân loại, có quyền “ban phát nhân quyền” cho các dân tộc. Vì
thế, họ ra sức ca ngợi văn hóa phương Tây, tán dương sứ mệnh “cứu loài người”,
xây dựng “thế giới văn minh”. Đây là cái cớ đó để họ “can thiệp ngày càng sâu rộng
vào công việc nội bộ của nhiều nước”. Nếu quốc gia, dân tộc nào làm trái ý họ
thì lập tức, bị phương Tây đưa vào danh sách “cần theo dõi” về “dân chủ” và
“nhân quyền”. Từ đó, họ thực hiện chiêu thức “ép buộc các nước phải quay theo
vòng xoáy” của họ, thông qua việc ràng buộc bằng những cam kết về “viện trợ
kinh tế”, “giúp đỡ nhân đạo” ép các nước đang phát triển phải làm theo ý muốn của
họ, v.v..
Vì
thế, họ tung ra luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, coi đó là “chuẩn mực”
để thực hiện “chủ nghĩa can thiệp mới”; biến nạn nhân thành tội phạm, biến tội
phạm thành “thánh nhân”, biến “kẻ đi ăn cướp thành xứ giả nhà trời”, thực hiện
sứ mệnh cứu vớt loài người. Cuộc chiến tranh ở Côxôvô, Irắc, Ápganistan…; đặc
biệt là việc cung cấp vũ khí, các phương tiện quân sự và hàng tỷ đô la để biến
cuộc xung đột Nga – Ucraina thành “cuộc chiến tranh ủy nhiệm” do phương Tây và
NATO cầm đầu đã nói lên điều đó…
Phải
chăng người tự xưng phân phát “nhân quyền” lại chính là kẻ đang cướp đi quyền sống
của những người dân vô tội, dày xéo lên độc lập, chủ quyền của các nước mà họ sắm
vai “vừa ăn cướp vừa la làng”, “vừa là tội phạm vừa là thánh nhân”. Bởi cái điều
mà họ hứa đem đến “dân chủ”, “nhân quyền”, cuộc sống giầu sang, sung sướng thì
chẳng thấy đâu, chỉ thấy nơi nào họ đến thì ở đó đổ máu với những vụ đánh bom
liều chết, sự tàn khốc của khủng bố với hàng chục ngàn người dân bị thiệt mạng,
hàng triệu người dân phải bỏ quê quán, sống lưu vong.
2. Với Việt
Nam, người phương Tây đang tỏ thái độ là “bề trên”, “vị quan tòa”, được quyền để
phán xét “nhân quyền ở Việt Nam”. Bằng mọi cách, họ đã và đang tung tin bịa đặt,
nào là “Việt Nam hạn chế quyền riêng tư của công dân”, “nào là “Việt Nam vi phạm
quyền con người”, “Việt Nam đàn áp dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên”, “Việt Nam đàn
áp tôn giáo”, v.v.. Việc bịa đặt, dàn dựng những câu chuyện hoang đường, hết sức
phi lý ấy đều nhằm mục đích: kích động những phần tử bất mãn, phản động chống
phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN ở nước ta. Cùng với đó, tập hợp lực lượng, tạo
dựng ngọn cờ, phe cánh, gây “điểm nóng” thông qua xung đột sắc tộc, tôn giáo,
làm rối loạn tình hình chính trị – xã hội và khi có điều kiện thì tổ chức bạo
loạn lật đổ, ví như vụ khủng bố ở Đắc Lắc (Tây Nguyên) tháng 6-2023 vừa qua…
Sự
can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Đảng, Nhà nước Việt Nam thể hiện ở
việc vu cáo, vu khống, buộc tội vô căn cứ “Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ và
nhân quyền”. Tại sao họ ở tận bên kia bán cầu, cách Việt Nam gần nửa vòng trái đất
nhưng lại họp bàn, thông qua “đạo luật nhân quyền ở Việt Nam” với các màn kịch
lắm “chương, nhiều tiết”, được chuẩn bị rất công phu, tốn kém, để vu cáo, áp đặt
“Việt Nam vi phạm nhân quyền” rồi lôi kéo “Việt Nam thực hiện nhân quyền theo
kiểu phương Tây” với tham vọng: Việt Nam ngả theo phương Tây. Bày đặt ra câu
chuyện ảo tưởng này, người phương Tây mong muốn Việt Nam điều gì? Phải chăng họ
muốn giúp đỡ Việt Nam, chuộc lại “lỗi lầm” vì đã đem quân xâm lược nước ta suốt
21 năm trời và tiếp tay cho các vụ bạo loạn ở Tây Nguyên trong những năm 2001,
2004, 2008 và mới đây, vụ khủng bố ở Đắc Lắc…
Hơn
ai hết, chúng ta hiểu rằng, đằng sau cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền”, “viện
trợ kinh tế”, “ngoại giao thân thiện” và “hợp tác hữu nghị” là mưu đồ chính trị:
chuyển hóa Việt Nam theo quĩ đạo của CNTB, biến Việt Nam thành “sân sau” của phương
Tây, làm cho Việt Nam phụ thuộc vào kinh tế, chính trị của họ. Đó là cái đích
mà phương Tây muốn hướng tới. Vì thế, họ tuyên truyền rùm beng về sự cần thiết
phải “nâng cấp mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam”, không muốn
là “đối tác hạng hai” trong so sánh quan hệ của Việt Nam với các nước trong Thường
trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc… Đây là vấn đề lớn, chắc chắn Đảng, Nhà nước
và các cơ quan chức năng của Việt Nam sẽ tính liệu cẩn trọng, chu đáo, hợp
tình, hợp lý và tiến hành khi điều kiện chín muồi.
Chúng
ta ghi nhận thiện chí của họ khi muốn làm những điều tốt đẹp cho Việt Nam vì
hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển vì sự tiến bộ xã hội. Tuy nhiên,
chúng ta phản đối việc lợi dụng vấn đề trên để đưa ra các chiêu bài “tự do”,
“dân chủ” và “nhân quyền” để vu khống, cáo buộc phi lý đối với Việt Nam. Hơn thế,
chúng ta phản đối mọi tổ chức, cá nhân đã “chống lưng” cho các tổ chức phản động
người Việt lưu vong ở nước ngoài quậy phá, chống đối sự nghiệp đổi mới, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Mong muốn nhiều điều tốt đẹp sẽ đến, sẽ tới
cho Việt Nam; song, chúng ta cũng đều đã rõ: “hãy bình tĩnh xem họ làm chứ đừng
xem họ nói”.
Hơn
ai hết, nhân dân Việt Nam đã trải qua những cuộc chiến tranh chống quân xâm lược,
đã chịu mất mát, hy sinh nên rất quý trọng hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc.
Chúng ta biết rõ ai, tổ chức nào có thiện chí, muốn giúp đỡ Việt Nam thành tâm,
và ai, tổ chức nào có âm mưu, thủ đoạn cản trở sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Thực tế chỉ ra rằng, phương Tây không đến Việt Nam để làm từ thiện;
không giúp đỡ Việt Nam một cách hoàn toàn vô tư, trong sáng, “không bao giờ cho
chúng ta tiền của mà không có sự mặc cả”. Vì vậy, hỡi những người “nhẹ dạ cả
tin”, đừng lầm tưởng về “lòng tốt”, “sự nhân đạo” của phương Tây; mọi cái họ
“cho chúng ta” đều có giá, đều là sự mặc cả mà phần lợi hơn thuộc về họ.
3. Rõ ràng
là, dùng chiêu bài “tự do”, “dân chủ” là chưa đủ sức mạnh để “thu hút”, “kêu gọi”
nên phương Tây bổ sung thêm chiêu bài “nhân quyền” và “ngoại giao thân thiện”
nhằm dễ bề tiếp cận, quay trở lại Việt Nam và dễ bề che đậy cái mưu đồ lái Việt
Nam theo con đường TBCN – quỹ đạo mà phương Tây đã vạch sẵn, muốn biến Việt Nam
thành sân sau của họ.
Chúng
ta luôn nhất quán quan điểm: Việt Nam sẵn sàng làm bạn, là đối tác tin cậy và
là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, chúng ta muốn “khép lại quá
khứ, nhìn về tương lai”. Điều ấy rất đúng, rất cần nên chúng ta chấp nhận “vừa
hợp tác vừa đấu tranh”, “thêm bạn, bớt thù” nhưng phải dựa chắc trên nguyên tắc:
tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế; tôn trọng lẫn nhau, hai
bên cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Vì lẽ đó, Việt
Nam thực hiện đường lối “ngoại giao cây tre” và chính sách quốc phòng “bốn
không”…để gìn giữ hòa bình và phát triển đất nước bền vững; con cháu không phải
sống trong chiến tranh, đổ máu.
Chúng
ta hiểu rõ rằng, trong bối cảnh quốc tế hiện thời, Việt Nam đứng trên lập trường
trung lập, chọn lẽ phải và chính nghĩa để tiếp tục công cuộc đổi mới, phát triển
đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vì thế, chúng ta “khép lại quá khứ” nhưng không
bao giờ “đóng chặt quá khứ” khi bước đến tương lai. Chúng ta luôn tỉnh táo,
sáng suốt thực hiện đường lối đổi mới của Đảng nhưng cũng luôn đề cao tinh thần
cảnh giác cách mạng và khôn khéo xử lý các về “đối tác và đối tượng”; biết tiến,
biết lùi, biết xử lý ổn thỏa mọi vấn đề “nhạy cảm”, phưc tạp trước các chiêu
bài “nhân quyền” đi kèm với “dân chủ ” mà phương Tây đang áp dụng đối với Việt
Nam.
Thông
qua các chiêu bài nêu trên, người phương Tây muốn đến Việt Nam bằng nhiều cách;
trong đó, cái cách “mềm dẻo nhất, hiệu quả nhất” là vừa tạo dựng được hình ảnh
tốt đẹp, vừa thực hiện được mưu đồ “luồn sâu, leo cao” vào các tổ chức kinh tế,
chính trị – xã hội ở Việt Nam để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Từ đó,
gây dựng cơ sở, thực hiện “nội công, ngoại kích”, chống phá ta trên nhiều mặt
trận, cả chính trị, kinh tế, giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ, cả văn hóa,
ngoại giao, quân sự và an ninh.
Cần
nhớ rằng, một trong những nội dung cốt lõi của vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” ở
Việt Nam là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ
XHCN ở nước ta. Vì thế, hai trong nhiều vấn đề then chốt của học
thuyết “nhân quyền phương Tây đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của
Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xóa bỏ
vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đây là chiêu thức hữu hiệu
để họ giành lại “chiến thắng trong hòa bình”, cái điều mà họ mong muốn, đã rất
cần nhưng để tuột trong cuộc chiến tranh gần 50 năm trước đây, bởi Chiến thắng
30-4 của quân và dân ta.
Nhìn
lại mà xem, từ trước đến nay, ai không thừa nhận chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước
và Nhân dân ta đang xây dựng; ai đã tuyên bố: chừng nào ở Việt Nam còn có Đảng
Cộng sản lãnh đạo thì chừng ấy ở đất nước này vẫn sẽ còn chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, vẫn sẽ đi theo con đường CNXH và chính điều đó là lực cản
lớn nhất đối với họ trở lại Việt Nam, là trái với ý đồ, đi ngược lại sự mong muốn
của phương Tây. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là “nguyên nhân” cản trở họ thực
hiện giấc mộng làm chủ thế giới với tư cách là một siêu cường, v.v..
Vì lẽ
đó, mấy chục năm nay, phương Tây luôn luôn vu cáo Việt Nam “vi phạm quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo”, “vi phạm nhân quyề”, lấy nó làm cái cớ để xuyên tạc,
tuyên truyền sai trái, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Qua đó,
khuyến khích, kích động những phần tử bất mãn, phản động trong các tôn giáo nổi
dậy chống đối Đảng, Nhà nước ta; phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
hạ thấp uy tín của Đảng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta.
Thực
chất của vấn đề “nhân quyền” là một chiêu thức mà các thế lực thù địch tiến
hành là áp đặt các “giá trị nhân quyền kiểu phương Tây” vào Việt Nam. Đây hoàn
toàn không phải vì nhân quyền đích thực mang giá trị nhân đạo, nhân văn, cũng
chẳng phải là lòng tốt, sự yêu thương, chăm sóc của giới cầm quyền phương Tây “ưu
tiên, dành riêng cho Việt Nam”.
4. Sự thật vẫn
là sự thật và bản thân nó chứa đựng các giá trị chân lý, không ai có thể dùng ý
muốn chủ quan để áp đặt, chà đạp lên nó; Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ở
Việt Nam do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo gần 37 năm qua đã thu được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Bộ mặt của đất nước sau 48 năm kết thúc
chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đã hoàn toàn khác trước đổi mới. Đất nước đã hồi
sinh và đang phát triển mạnh mẽ, đời sống của gần 100 triệu dân Việt Nam ngày
càng được cải thiện, được nâng lên không ngừng. Nhờ đó, tự do, dân chủ, quyền
con người luôn được tôn trọng, đề cao; nhân dân được hưởng hạnh phúc.
Đạo
lý của dân tộc Việt Nam chỉ rõ: Công việc ở Việt Nam là của người Việt Nam, phải
do người Việt Nam tự lo liệu, không cần sự quan tâm thái quá của bất cứ quốc
gia, dân tộc nào dưới các chiêu bài “mị dân”, lừa gạt “dân chủ” và “nhân quyền”.
Chiêu
trò nhân danh, giả danh nhân nghĩa để ban phát “tự do, dân chủ, nhân quyền” đã
bị phơi bày, bị lộ tẩy, nên những tổ chức, cá nhân lợi dụng chiêu bài “nhân quyền”
ở Việt Nam không thể lừa bịp được ai, nhất là khi bản thân các người ấy đang trắng
trợn vi phạm nhân quyền. Hãy nghiên cứu kỹ lịch sử của dân tộc Việt Nam, các người
sẽ hiểu bài thơ bất hủ của lão tướng Lý Thường Kiệt: “Sông núi nước Nam Vua Nam
ở/ Dành dành định phận ở sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ
bị đánh tơi bời”./.
Ngày 13/7, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xét xử và tuyên án phúc thẩm đối với Trương Văn Dũng(sinh năm 1958, trú tại số 69, ngõ 73, Nguyễn Lương Bằng, phường Nam Đồng, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự.
Ngay sau đó, trên VOA Tiếng Việt đăng status trích phát biểu của ông Phil Robertson, Phó Giám đốc Ban châu Á của cái gọi là Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW – Human Rights Watch) nói rằng: “Ông Trương Văn Dũng đã dũng cảm đứng lên đấu tranh chống suy thoái môi trường, chống chiếm đoạt đất đai và tham nhũng, đáng được tuyên dương chứ không phải bị bỏ tù”! Ngoài ra, trên một số trang web phản động ở nước ngoài, ông Phil Robertson còn có những phát biểu bày tỏ rõ quan điểm bênh vực, bao che, cố xúy hành động sai trái và đòi trả tự do cho Trương Văn Dũng. Trong khi đó trên thực tế, hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tuyên truyền, chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Trương Văn Dũng là rất rõ ràng.
Về hành vi của Dũng: từ tháng 10/2015 đến tháng 5/2022, thông qua trả lời chương trình “Từ cánh đồng mây” tại một file video và một file audio, Trương Văn Dũng có hành vi tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền những luận điệu “chiến tranh tâm lý”, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân thông qua các bài phỏng vấn, video, clip đăng tải trên mạng xã hội. Dũngcòn có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách với tiêu đề “Những mảnh đời sau song sắt” và 11 tài liệu dạng sách với tiêu đề “Chính trị bình dân” có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, v.v. Cùng với đó, Dũng còn có 31 băng rôn, biểu ngữ in trên vải bạt và 11 tài liệu in trên giấy với nhiều kích thước khác nhau có nội dung chống Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sau khi xem xét, đánh giá tài liệu, chứng cứ thu thập được và lời khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã tuyên Trương Văn Dũng y án sơ thẩm “6 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Mọi tình tiết liên quan đến vụ án đã rõ như ban ngày, thế nhưng thật là nực cười, trong con mắt của ông Phil Robertson, Trương Văn Dũng lại được cổ xúy là: “đã dũng cảm đứng lên đấu tranh chống suy thoái môi trường, chống chiếm đoạt đất đai và tham nhũng, đáng được tuyên dương chứ không phải bị bỏ tù”.
Không chỉ ở Việt Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều tôn trọng quyền tự do dân chủ của công dân trong khuôn khổ luật pháp. Ví dụ như: Điều 18, Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”. Điều 19, Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”. Tuy nhiên, tại Điều 29 của văn bản này cũng khẳng định: “Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định,… nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”. Nguyên Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon cũng từng khẳng định: “Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,… chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào các mục đích công lý và phục vụ cộng đồng”. Rõ ràng những hành vi của Trương Văn Dũng vừa trái với Công ước quốc tế, vừa vi phạm pháp luật Việt Nam. Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam công nhận, bảo đảm việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập hội của công dân nhưng phải theo quy định của pháp luật. Những hành vi lợi dụng các quyền này để chống phá chính quyền nhà nước thì không chỉ ở Việt Nam, mà bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới cũng đều không thể chấp nhận.
Vì thế, những phát biểu của ông Phil Robertson cho thấy rõ sự hồ đồ, xuyên tạc, bằng cách tiếp cận hết sức thiển cận, chủ quan, phiến diện đối với các quy định của Công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền con người. Đây cũng là hành động cố tình đội lốt “nhân quyền”, coi tự do, dân chủ, nhân quyền là tấm bình phong để tung hô, cổ xúy cho đối tượng có hành vi sai trái, vi phạm pháp luật và can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Hành động đó cần được lên án và đấu tranh bác bỏ./.
Sáng 15/10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đại biểu của đơn vị bầu cử số 1 đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tiếp xúc cử tri các quận Hai Bà Trưng, Đống Đa, Ba Đình trước kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XV.
Đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực, Tổng Bí thư cũng khẳng định cơ chế kiểm soát quyền lực sẽ tiếp tục được quan tâm nhiều hơn để ngăn chặn tình trạng cán bộ không ai giám sát dẫn đến "tự tung, tự tác, muốn làm gì thì làm”. Thậm chí bè cánh, móc ngoặc với nhau trở thành lợi ích nhóm là vô cùng nguy hiểm.
Dẫn ví dụ xử lý một số cán bộ ở Hải Dương liên quan Công ty Việt Á, Tổng Bí thư cho biết "không phải một người mà móc ngoặc với nhau từ Bí thư Tỉnh uỷ cho đến Chủ tịch tỉnh, cán bộ các cấp và còn móc với cán bộ trên Trung ương".
Tại Hội nghị Trung ương 6, đã kỷ luật Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương ở mức cao nhất là khai trừ Đảng. Không chỉ kỷ luật, nếu cán bộ thấy có khuyết điểm, tự nhận và xin thôi, tự từ chức thì Trung ương hoặc các cơ quan có thẩm quyền đồng ý quyết định cho thôi.
Tổng Bí thư nhấn mạnh "cuộc chiến đấu" vẫn đang còn tiếp tục, chưa phải hết và một số các vụ trọng tâm, trọng điểm đang làm và sẽ làm.
Vừa qua, hội
nghị Thượng đỉnh về tự do tôn giáo quốc tế năm 2022 đã được tổ chức tại
Oa-sinh-tơn thủ đô của nước Mỹ. Giống như năm 2021, Nguyễn Đình Thắng cầm đầu tổ
chức Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) tiếp tục lợi dụng hội nghị Thượng đỉnh
này để xuyên tạc, vu cáo tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam nhằm đánh bõng cho
tổ chức này và tìm nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế… Cũng có một nghịch lý
là những kẻ lợi dụng nhân quyền, tôn giáo sẽ được số chống cộng ở hải ngoại
tung hô nhưng chính Thắng lại bị số người Mỹ gốc Việt tại hải ngoại “ bóc mẽ”
là kẻ xảo trá chính trị, lừa đảo ăn chặn tiền gửi và vụ Holy Ngô kiện Nguyễn Đình
Thắng ra tòa án Mỹ vì Thắng xơ múi về tài chính.Hơn nữa, Thắng luôn lợi dụng
các diễn đàn để tiến hành các âm mưu chống phá. Năm 2016, tại diễn đàn APF diễn
ra ở Đông Timor, Thắng đã có ý định cử một phái đoàn tham dự để công khai tuyên
truyền ủng hộ số phản động trong nước, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo, vu
cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam cưỡng chế đất đai và tài sản của người dân trái
pháp luật; vận động các tổ chức quốc tế và chính giới các nước can thiệp Việt
Nam cho thành lập “ nghiệp đoàn tự do và độc lập. Đến khi Hội nghị Thượng đỉnh
tôn giáo năm 2022 diễn ra, thì chính Nguyễn Đình Thắng đẩy mạnh các hoạt động
chống phá theo kế hoạch đã được “ lập trình” từ trước một cách quá lộ liễu.
Trước hết, để được tham gia hội nghị Nguyễn Đính Thắng đã đăng ký, nộp lệ
phí và tham gia là “ đối tác tài trợ”. Sau đó, Thắng tuyên truyền là thành viên
tổ chức hội nghị được phân công chủ trì hai hội nghị và tung hô là tổ chức người
Việt duy nhất tham dự hội nghị này. Trong thời gian diễn ra hội nghị, BPSOS tổ
chức nhiều hoạt động, như: Tham gia lễ tuần hành và vận động đòi trả tự do cho
số đối tượng phản động trong nước, như: Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Bắc Truyền và
Ybum Bya; tổ chức thảo luận trên tinh thần vu cáo để dựng lên các bằng chứng
xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam. Rõ ràng, đây là những việc làm
trớ trêu và nực cười của tổ chức BPSOS vì họ vận động đòi trả tự do tôn giáo
cho số đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam chỉ vì họ theo một tôn giáo náo đó
và “ nống” lên rằng đó chính là “ đàn áp tôn giáo”… Nguyễn Bắc Truyền, Nguyễn Văn
Hóa, Ybum Bya là những đối tượng đã vi phạm pháp luật Việt Nam, đã bị các cơ
quan chức năng của Việt Nam đưa ra xét xử công khai với bản án dành cho các đối
tượng này là rất thỏa đáng và việc làm của BPSOS đòi trả tự do cho các đối tượng
này là rất phi lý
Từ trước đến nay, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là
tôn trọng và bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo cũng như tự do không tín
ngưỡng, tôn giáo của công dân. Điều này đã được thể hiện trên thực tế, thời
gian qua các cơ quan chức năng của Việt Nam tích cực hoàn thiện hệ thống pháp
luật về tôn giáo, chính sách đối với tín ngưỡng, trong đó Quốc hội thông qua Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo và các nghị định, văn bản thi hành rất kịp thời. Đáng chú
ý, trong những năm qua đã có nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức
thành công tại Việt Nam, như: Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesar; Kỷ niệm 500
năm cải chánh đạo Tin lành…Những sự kiện này được các nước trong khu vực và
trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao.
Do vậy, muốn đánh giá tự do tôn giáo và tín ngưỡng của một nước thì hãy
nghe công dân của các nước đó chứ không nên nghe ý kiến của những người như
Nguyễn Đình Thắng và tổ chức BPSOS lợi dụng các sự kiện quốc tế để tự đánh bóng
cho cá nhân và tổ chức của mình và là cơ hội kiếm tài trợ phục vụ cho những hoạt
động đen tối chứ không thể mang lại” tự do tôn giáo” như họ tuyên truyền, rêu
rao bằng những luận điệu và thủ đoạn xảo trá . Chắc chắn dư luận tỉnh táo không
thể tin những luận điệu này!
Hồng Dân với bài: “Quyền trẻ em ở Nha Trang, Đà Nẵng bị xâm phạm thô bạo” trên
trang Việt Nam Thời Báo ngày 05/9/2022. Họ cho rằng quyền trẻ em “bị xâm phạm
thô bạo” vì từ “thông báo của Phòng Giáo dục” (nhưng không nói rõ Phòng Giáo dục
của địa phương nào): “Em nào không tiêm vắc-xin thì không được đến trường mà phải
ở nhà học online”. Hồng Dân còn viết thêm: “Nhiều phụ huynh có con em học tại
các trường tiểu học ở thành phố Nha Trang bất ngờ nhận được thông báo của giáo
viên chủ nhiệm về việc yêu cầu bắt buộc học sinh phải tiêm vắc-xin khi đến trường.
Tương tự, ngày 17/8, nhiều phụ huynh tại thành phố Đà Nẵng chia sẻ tin nhắn và
giấy mời được cho là của trường tiểu học Lê Quang Sung, quận Thanh Khê về việc
yêu cầu phụ huynh cho học sinh tiêm vắc-xin phòng dịch COVID-19 trước 25/8”.
Vậy, phải chăng tiêm vắc-xin phòng dịch
COVID-19 cho trẻ em là vi phạm nhân quyền? Để làm rõ vấn đề này chúng ta tìm hiểu
xem nhân quyền là gì?
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về
nhân quyền, theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Nhân quyền là quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn
từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa
nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế.
Các quyền tự nhiên của con người là quyền
được ăn uống, được mặc, được sống khỏe mạnh, v.v. Trong quyền con người, có ít
quyền tuyệt đối, còn lại là quyền bị hạn chế bởi các điều luật của quốc gia, quốc
tế vì lý do quốc phòng, an ninh, vì sức khỏe của cộng đồng và đạo đức xã hội.
Điều 6 “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị” đề cập đến quyền tuyệt
đối “Không ai bị tước đoạt mạng sống một cách vô cớ”. Điều ấy có thể hiểu là
quyền được sống trong khỏe mạnh. Mà muốn mạnh khỏe thì một trong những yếu tố
cơ bản là phải được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe thường xuyên. Bởi người ta chẳng
thể học hành hoặc làm được bất cứ việc gì nếu sức khỏe không được bảo đảm. Khi
sức khỏe không được bảo đảm thì người ta chẳng có ước gì ngoài ước mình được mạnh
khỏe cả về thể chất và tinh thần. Đó là chưa kể nhiều người bị chết do không được
tiêm phòng vắc-xin COVD-19. Một khi mạng sống còn không giữ được thì tất cả các
quyền còn lại đều trở nên vô nghĩa! Vậy thì việc tiêm phòng nói chung, tiêm vắc-xin
phòng dịch COVID-19 nói riêng cho con người; trong đó, có trẻ em từ 5 – 12 tuổi
lại không cần thiết sao? Việc tiêm vắc-xin phòng COVID-19 cho trẻ em chính là bảo
đảm sự an toàn cho trẻ em trước nguy cơ của dịch bệnh; là bảo đảm tốt hơn quyền
được sống mạnh khỏe cho trẻ em. Thế mà họ lại cho rằng “quyền của trẻ em đang bị
xâm phạm thô bao”(!). Thật là nực cười!
Họ viện dẫn, chưa có quy định pháp lý về
tiêm vắc-xin phòng COVID-19 cho trẻ em mà cứ tiêm phòng COVID-19 cho trẻ em là
vi phạm nhân quyền đối với trẻ em (!).
Người viết bài này chưa tìm hiểu cơ sở
pháp lý về tiêm vắc-xin phòng COVID-19 cho trẻ em, cứ cho điều họ đưa ra là
đúng, thì cũng thấy rõ đó là thứ tư duy cơ khí, máy móc. Bởi trước thực tiễn, dịch
COVID-19 lây lan nhanh, trên toàn thế giới, cộng đồng quốc tế đang đẩy mạnh
tiêm phòng bệnh này cho người lớn và cả trẻ em, để tạo ra miễn dịch cộng đồng.
Thực tế đã chứng minh nước nào có diện phủ kín vắc-xin COVID-19 sớm, thì nước
đó sớm tạo nên miễn dịch cộng đồng, cuộc sống của con người gần như trở lại trước
khi xảy ra dịch nguy hiểm này. Việt Nam là một nước cho thấy rõ điều đó. Nước
ta có tỉ lệ bao phủ vắc-xin phòng dịch COVID-19 vào hạng cao của thế giới, nhờ
đó, mọi hoạt động của người dân gần như trở lại trước thời điểm có dịch. Cũng
nhờ tiêm phòng dịch COVID-19 mà hoạt động sản xuất, kinh doanh của Việt Nam
phát triển mạnh. Theo Tổng cục Thống kê: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II
năm 2022 ước tính tăng 7,72% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng của
quý II các năm trong giai đoạn 2011-2021. Tính chung 6 tháng, GDP tăng 6,42%,
cao hơn tốc độ tăng 2,04% của 6 tháng đầu năm 2020 và tốc độ tăng 5,74% của 6
tháng đầu năm 2021 nhưng thấp hơn tốc độ tăng 7,28% và 6,98% của cùng kỳ năm
2018 và 2019 [1].
Quay trở lại việc tiêm phòng dịch
COVID-19 cho trẻ em theo thông báo mà họ viện dẫn: “Em nào không tiêm vắc-xin
thì không được đến trường mà phải ở nhà học online” có vi phạm nhân quyền
không?
Câu trả lời là KHÔNG. Bởi, ai đã tiêm
phòng dịch COVID-19 đều biết: Trước khi tiêm, cơ quan y tế có cam kết với người
tiêm là đồng ý tiêm hay không đồng ý tiêm. Nếu đồng ý tiêm thì việc tiêm phòng
được tiến hành, không đồng ý tiêm thì thôi. Đó là quyền lựa chọn của người tiêm
phòng COVID-19. Trẻ em cũng vậy (có bố mẹ hoặc người giám hộ giúp đỡ), không có
chuyện ép buộc ai tiêm cả. Các tổ chức chỉ tuyên truyền, vận động để mọi đối tượng
thấy được lợi ích của việc tiêm phòng COVID-19. Đây cũng là trách nhiệm của các
tổ chức khi có ai đó chưa hiểu thì phải nâng cao nhận thức cho họ hiểu được ý
nghĩa, sự cần thiết của việc tiêm phòng dịch COVID-19. Điều đó cho thấy, các tổ
chức rất coi trọng quyền con người.
Những trẻ em đã tiêm phòng thì có khả
năng miễn dịch cộng đồng, không làm lây lan dịch bệnh cho người khác, nên được
đến trường học trực tiếp là đúng. Còn những trẻ nào chưa tiêm phòng dịch
COVID-19 thì có nguy cơ làm lây lan dịch bệnh nếu em đó chẳng may nhiễm virus
corona. Vì thế, những em này học online là phù hợp. Như thế, quyền được học tập
của các em vẫn được bảo đảm. Nó chỉ khác về hình thức học tập trực tiếp hoặc
online mà thôi. Cho nên, cho rằng: “Em nào không tiêm vắc-xin thì không được đến
trường mà phải ở nhà học online” là “xâm phạm nhân quyền” là cách nói không tường
minh, nói lấy được./.
Thời đại hội nhập quốc tế và xã hội phát
triển góp phần làm cho đời sống văn học-nghệ thuật (VHNT) ngày càng phong phú.
Song VHNT cũng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, phức tạp.
Lợi dụng các nền tảng mạng xã hội như
Facebook, Zalo, YouTube và lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, một số “văn
tài tha hóa” đã cho ra đời những sản phẩm "núp bóng tác phẩm nghệ
thuật", làm tha hóa tư tưởng con người và tác động tiêu cực đến đời sống
tinh thần xã hội.
Văn nghệ sĩ tha hóa sẽ cho ra những đứa
con tinh thần lạc lối, nguy hại
Sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ
thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(1). Trong
lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, những văn nghệ sĩ yêu nước đã sử dụng một
loại vũ khí có sức mạnh “thanh cao mà đắc lực”-thứ vũ khí không được chế tác
bằng kim loại, không gây sát thương, nhưng mang lại hiệu quả chiến đấu to lớn,
góp phần làm nên những chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc
kháng chiến vĩ đại của dân tộc ở thế kỷ 21.
Nhà thơ Sóng Hồng(2) đã viết: “Dùng bút
làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ: Bom đạn phá cường quyền” ("Là thi
sĩ"). Những vần thơ như thay cho lời khẳng định về giá trị, vị trí, vai
trò của VHNT trong kháng chiến giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định,
VHNT là lĩnh vực rất quan trọng để bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, hoàn thiện nhân
cách, đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh của con người. Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ
Chính trị (khóa X) khẳng định: “VHNT là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh
tế của văn hóa; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của
con người; là một trong những động lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền
tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam...
VHNT Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và
mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ”(3).
Các nghệ sĩ biểu diễn trong chương trình
nghệ thuật "Sáng mãi truyền thống Bộ đội Cụ Hồ". Ảnh: TTXVN
Ngày nay, trong điều kiện đất nước phát
triển, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tư duy
sáng tạo văn học cũng như tâm lý học sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ đã
được đổi mới, mở rộng và phát triển mạnh mẽ, hội nhập cùng với xu hướng hiện
đại của các nước tiên tiến trên thế giới. Cũng từ đó, VHNT ngày càng có cách
nhìn phóng khoáng hơn, biên độ sáng tạo được mở rộng hơn, hệ thống tiếp nhận
cũng được định hình theo sự phân tầng của tư duy nghệ sĩ; góp phần đổi mới, đa
dạng hơn về đề tài, nội dung tư tưởng.
Tuy nhiên, thời gian qua xuất hiện một số
văn nghệ sĩ đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc; hay thậm
chí chính họ bị tha hóa về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Những đối tượng này thành lập các hội, nhóm, “sáng tạo” ra một thứ nghệ thuật
đồi trụy "núp bóng" văn hóa, văn chương; tạo ra những cái gọi là “tác
phẩm nghệ thuật” thiếu chuẩn mực, thiếu đạo đức, chà đạp truyền thống lịch sử,
làm ô uế thuần phong mỹ tục của dân tộc với những tư duy lệch lạc, những câu
chuyện rẻ rúng, những thứ ngôn từ thô tục... để phủ nhận thành quả cách mạng mà
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đổ biết bao xương máu mới giành được.
Thậm chí, “tác phẩm nghệ thuật” ấy được
lồng ghép và tạo dựng những hình ảnh dung tục với một lối tư duy phi truyền
thống, phi văn chương, phi nghệ thuật, phi chính trị... nhằm mục đích tuyên
truyền, kích động, bôi nhọ lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, bôi nhọ anh hùng dân tộc,
bôi nhọ nền tảng truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc...
Ví như những cuốn sách: “Bên kia bờ ảo
vọng”, “Một cơn gió bụi”, “Tây Hùng Vương”, “Mối chúa”, “Đất mồ côi”... làm cho
người tiếp nhận, nhất là thế hệ trẻ bị hoang mang, dẫn đến nhận thức lệch lạc,
đánh mất niềm tin vào cuộc sống, trật tự xã hội bị đảo lộn, tư duy con người bị
xô lệch, mất phương hướng.
Xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn
ngừa những tác phẩm lệch lạc, xấu độc
Đảng, Nhà nước ta và các cơ quan quản lý
không hạn chế, kìm hãm tư duy sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ, nhưng định
hướng, mong muốn, khuyến nghị các văn nghệ sĩ cần đặt những sản phẩm sáng
tạo-những thành quả lao động nghệ thuật-vào đúng vị trí của nó và phù hợp với
các giá trị chuẩn mực của cộng đồng, xã hội.
Trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay,
cần thực hiện nhiều giải pháp để xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa
hiệu quả những hệ lụy tiêu cực từ các tác phẩm VHNT có nội dung thấp kém, xấu
độc. Giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là tiếp tục quán triệt sâu sắc,
thực hiện hiệu quả những định hướng của Đảng về VHNT gắn với phát triển văn
hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới.
Đặc biệt chú trọng quán triệt và thực hiện
tốt nội dung Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) "Về tiếp tục
xây dựng và phát triển VHNT trong thời kỳ mới" và những chương trình, kế
hoạch về phát triển văn hóa, VHNT mà các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và
chính quyền các địa phương đã xác định.
Coi trọng và phát huy vai trò, trách nhiệm
của những người làm nhiệm vụ “gác cổng nghệ thuật”, những cơ quan trực tiếp làm
công tác biên tập, xuất bản, phát hành, tránh để những sản phẩm phi nghệ thuật
được xuất bản, phát tán, lưu hành trong đời sống xã hội. Các cơ quan quản lý,
cơ quan biên tập, xuất bản phải thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ
làm công tác biên tập; phối hợp chặt chẽ với cơ quan liên quan để phân tích,
sàng lọc và nắm được tư tưởng văn nghệ sĩ thông qua sản phẩm sáng tạo.
Bên cạnh đó, những người làm công tác quản
lý VHNT phải thực sự nhạy bén trong nhận định, đánh giá tác phẩm nghệ thuật,
biết phân biệt rõ những tác phẩm nghệ thuật chân chính với những sản phẩm “núp
bóng nghệ thuật” được tạo ra bởi tư duy thấp hèn, phục vụ những lợi ích cá nhân
không lành mạnh và mang động cơ đen tối.
Đối với đội ngũ văn nghệ sĩ và cán bộ,
đảng viên, cần nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của VHNT trong đời
sống tinh thần của nhân dân. Lĩnh vực VHNT là một mặt trận mà những “chiến sĩ
văn hóa” cần đem hết tài năng, trí tuệ và nhiệt huyết của mình để cống hiến,
sáng tạo những tác phẩm VHNT có giá trị.
Cùng với đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu
cao tinh thần đấu tranh với những tác phẩm “núp bóng văn hóa”, những tác phẩm
phi nghệ thuật và những cuốn sách có tư tưởng lệch lạc, ý đồ chống phá Đảng,
Nhà nước, bôi nhọ lịch sử dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức,
tình cảm của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.
Chúng ta tôn trọng sự tự do sáng tạo nhưng
phải quan tâm bồi dưỡng tư tưởng chính trị, quan điểm, lập trường cho văn nghệ
sĩ. "Lá, cành" của "cây xanh" văn nghệ sĩ phải luôn
"quang hợp" ánh sáng lý tưởng cách mạng, nếu không, "cây"
sẽ bị héo và "quả" sẽ sài đẹn. Lịch sử nghệ thuật cho thấy, các nghệ
sĩ lớn luôn tự do sáng tạo theo một xu hướng nhất định.
Sáng tạo VHNT theo những nguyên lý cơ bản
của mỹ học Mác-xít là sáng tạo theo tinh thần nhân văn, tiến bộ, phù hợp với
quy luật tư tưởng và tình cảm tâm lý tiếp nhận của con người. Sứ mệnh cao cả
nhất của văn nghệ sĩ là tự do sáng tạo vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội, vì
những phẩm giá tốt đẹp của con người và giá trị chân, thiện, mỹ của xã hội.
Trong xã hội hiện đại, để góp phần cho
VHNT đi đúng hướng và có sức sống dồi dào, sức lan tỏa sâu rộng, các cơ quan
chức năng và các hội chuyên ngành VHNT cần tiếp tục tổ chức các chuyến đi thực
tế để văn nghệ sĩ có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn về đời sống xã hội, từ đó có
những cảm nhận vui buồn, cảm thông và chia sẻ với các tầng lớp nhân dân, nhất
là người lao động.
Vốn sống của văn nghệ sĩ không chỉ loanh
quanh trong một cơ quan, địa phương, ngành nghề mà phải vươn ra khắp mọi miền
Tổ quốc. Sinh thời, nhà văn Nam Cao từng nhấn mạnh: “Sống đã rồi hãy viết”.
Vì lẽ đó, việc duy trì tổ chức những
chuyến đi thực tế để các văn nghệ sĩ được sống, được hít thở, được đập cùng
nhịp đập trái tim của nhân dân ở mọi lúc, mọi nơi trên đất nước Việt Nam sẽ góp
phần giúp họ am hiểu cuộc đời, biết chắt lấy tinh hoa đời sống để xây dựng mô
hình, chất liệu, sức sống cho tác phẩm VHNT.
---------
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb Chính
trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.246.
(2) Bút danh của Tổng Bí thư Trường Chinh.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng
toàn tập, tập 67, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2008, tr.653.
Trang
facebook Việt Nam Thời Báo, ngày 05/7 đăng bài “Người Mông tại Hội nghị thượng
đỉnh về tự do tôn giáo” của Quang Nguyên. Theo bài viết, Hội nghị thượng đỉnh
về tự do tôn giáo thế giới tổ chức cuối tháng 6 vừa qua tại thủ đô Washington,
Hoa Kỳ gồm nhiều đoàn đại biểu của 31 quốc gia tham dự. Đoàn Việt Nam đông nhất
với hơn 60 người, trong đó có nhóm Tin lành người Mông. Tác giả bài viết cho rằng:
“Họ là những nhân chứng sống về sự đàn áp tự do tín ngưỡng qua những phương
cách tàn nhẫn, vô nhân tính của cộng sản Việt Nam”. Đây là phát ngôn vu cáo
trắng trợn về tình hình tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Việt
Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, có khoảng 95% dân số có đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo. Đến nay, trên cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng;
trong đó, có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Riêng với
lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công
nhận, cấp phép hoạt động với hơn 26,5 triệu tín đồ. Những năm qua, Nhà nước Việt
Nam luôn quan tâm, tạo điều kiện để hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của công dân
theo đúng quy định của pháp luật, coi đây là một phần cuộc sống, sinh hoạt của
những người theo tôn giáo. Năm 2016, Việt Nam đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn
giáo để tạo hành lang pháp lý cho các tôn giáo đăng ký, cấp phép hoạt động, tạo
điều kiện để các tín đồ “sống tốt đời, đẹp đạo”.
Tuy
nhiên, trong quá trình hội nhập quốc tế, đã có những tôn giáo, đạo lạ, tà đạo,…
có giáo lý đi ngược lại với thuần phong mỹ tục của dân tộc xâm nhập vào Việt
Nam. Mặc dù, chưa được cấp phép hoạt động nhưng những người đứng đầu vẫn lén lút
tìm mọi cách tuyên truyền, truyền đạo và tổ chức các hoạt động trái phép nhất
là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tiềm ẩn gây mất an ninh, trật tự, an
toàn xã hội trên địa bàn. Thậm chí có những phần tử lợi dụng, núp bóng tự do
tôn giáo để có hành động tuyên truyền, chống phá chính quyền, kích động, chia rẽ
khối đại đoàn kết dân tộc. Những hành động đó đã vi phạm pháp luật Việt Nam,
nên bị các cơ quan chức năng điều tra, xét xử theo quy định của pháp luật. Việc
làm này là hoàn toàn bình thường, không thể gọi đó là hành động đàn áp tự do
tôn giáo như bài viết đã nêu.
Trong
bài viết còn cho rằng: “khi đạo Tin Lành được truyền đến miền núi phía Bắc
Việt Nam, đã giúp người Mông hiểu được chỉ có Đức Chúa Trời cứu rỗi được linh hồn
họ. Rất đông người nghe theo Tin Lành của Chúa. Người Mông thay đổi nếp sống hủ
lậu. Cuộc sống, văn hóa lạc hậu dần thay đổi, các tệ nạn xã hội dần mất hẳn
theo lời dạy của Đức Chúa trời “Vàng Chứ””. Đây là sự ngộ nhận, ấu trĩ đến
nực cười về nhận thức của Quang Nguyên. Bởi, đúng là cuộc sống, văn hóa của đồng
bào Mông đã, đang dần thay đổi. Nhưng để có được điều đó là nhờ có đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.
Và có một sự thật, một thực tế không thể phủ nhận là có hàng trăm nghìn cán bộ,
chiến sĩ các đơn vị Quân đội, Bộ đội Biên phòng, các đơn vị kinh tế quốc
phòng,… đang từng ngày, từng giờ ba cùng, bốn cùng, gắn bó mật thiết với đồng
bào để tuyên tuyền, vận động đồng bào thay đổi nếp nghĩ, xóa bỏ hủ tục lạc hậu,
hướng dẫn cách sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, thay đổi cuộc sống. Hoàn
toàn không thể có chuyện Đức Chúa Trời đã cứu rỗi, làm thay đổi cuộc sống của đồng
bào.
Còn với
nhóm Tin Lành người Mông dự Hội nghị không hề đại diện cho tiếng nói, nguyện vọng
của cộng đồng đồng bào Mông ở Việt Nam. Mà thực chất đây là những phần tử bất
mãn với chế độ, với chính quyền. Họ đã lợi dụng, núp bóng chiêu trò “đấu tranh
cho tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng” để vu cáo, phản ánh không đúng tình hình
tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam, dưới sự giật dây của các thế lực
thù địch mà thôi./.
Mới đây, trên RFA Tiếng Việt
trích dẫn Báo cáo chỉ số dân chủ năm 2021 của Cơ quan Tình báo Kinh tế
(Economist Intelligence Unit – EUI) thuộc tập đoàn Economist tại Anh để viết và
đăng bài “Việt Nam thuộc nhóm nước phi dân chủ trong báo cáo Chỉ số dân chủ năm
2021”. Trong bài viết này, RFA xuyên tạc, quy chụp rằng: Việt Nam, nơi mà trong
thời gian hai năm qua bắt giam và xử án tù thật nặng hàng loạt nhà văn, ký giả độc
lập và các nhà bất đồng chính kiến ôn hòa. Dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới một thể
chế tam quyền phân lập giả mạo, trở thành kẻ thù lâu dài của xã hội dân sự và của
internet, đã biến đất nước thành một nhà tù lớn mà mọi công dân đều có thể vi
phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước…” và đi đến
nhận định: Việt Nam thuộc nhóm nước có thể chế độc tài, toàn trị(!)
Đây là nhận định phi lý về thực tế tình hình ở Việt Nam!
Từ khi ra đời, lãnh đạo Nhà nước
và xã hội Việt Nam đến nay, gương cao ngọn cở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tộc Việt Nam đoàn kết đứng lên để
xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và đã đạt được những thành
tựu to lớn. Ngày nay, từ một đất nước thuộc địa, bị chia cắt, nghèo nàn, lạc hậu,
lệ thuộc, người dân sống đau khổ, lầm than dưới sự giày xéo của các thế lực
phong kiến, thực dân, đế quốc phản động, Việt Nam đã trở thành một đất nước độc
lập, thống nhất, có nền chính trị, xã hội ổn định, nền kinh tế phát triển
nhanh, bền vững; người dân được sống trong tự do, hạnh phúc, tự quyết định vận
mệnh của dân tộc và chính mình trên con được thực hiện khát vọng: Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Việt Nam là nước có thu nhập trung bình.
Xin nói rằng, nền dân chủ ở Việt
Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là nền dân chủ của đại đa số nhân dân,
mà ở đó quyền con người, quyền công dân được đảm bảo bằng pháp luật và ngày
càng tốt hơn. Ở Việt Nam, nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước. Nhà nước
có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm toàn bộ các quyền của con người, quyền của
công dân như quyền tự do cá nhân, tự do báo chí, hội họp, đi lại, tự do tín ngưỡng,
tôn giáo, v.v. Thực tế cho thấy, Việt Nam luôn tích cực, chủ động bổ sung, hoàn
thiện hệ thống pháp luật, chính sách bảo đảm cho người dân được tư do “Sống và
làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, tư do tìm, lựa chọn việc làm, tự do ngôn
luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội,
xóa đói, giảm nghèo, y tế, giáo dục,… Chỉ tính riêng năm 2021, Việt Nam tiếp tục
thông qua và sửa đổi nhiều Bộ luật quan trọng, như: Luật Phòng, chống ma túy sửa
đổi; xem xét thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự. Việc lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh qua các năm luôn đảm bảo
nguyên tắc ưu tiên đưa vào Chương trình các dự án luật nhằm triển khai thi hành
các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân. Việt Nam được thế giới ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng
trưởng và sử dụng internet cao trên thế giới. Các nền tảng số, mạng xã hội tạo
nên những kênh, giao diện kết nối quan trọng để người dân tiếp cận thông tin,
trao đổi và bày tỏ quan điểm của mình. Tính tới tháng 12/2021, hơn 70% dân số
Việt Nam sử dụng internet, có đến 72 triệu người dùng mạng xã hội, chỉ trong năm
qua đã tăng 07 triệu người dùng; hiện có hơn 76 triệu tài khoản facebook tại Việt
Nam.
Thời gian qua, trong bối cảnh đại
dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương,
chính sách nhằm bảo đảm ổn định cuộc sống tối thiểu cho người dân, đặc biệt là
người nghèo. Gói an sinh xã hội lần thứ nhất đã được triển khai có quy mô
62.000 tỷ đồng và gói an sinh xã hội lần thứ hai với tổng trị giá 26.000 tỷ đồng
là nền tảng để bảo vệ các quyền con người, đồng thời cho thấy nỗ lực và quyết
tâm của Việt Nam trong bảo vệ, bảo đảm, thúc đẩy quyền con người. Bên cạnh đó,
các cơ quan báo chí Việt Nam chủ động phản biện, đóng góp ý kiến về các dự thảo
luật, các chính sách của Chính phủ, các kế hoạch, chiến lược, dự án lớn. Chính
phủ thường xuyên lắng nghe các ý kiến phản biện xây dựng, xác đáng, điều chỉnh
các chính sách, biện pháp phù hợp với tình hình thực tế đất nước, điển hình là
trong công tác phòng chống dịch Covid-19, giải quyết các bất cập trong quá
trình phát triển kinh tế – xã hội. Năm 2021, mặc dù bị Đại dịch Covid-19 bị tàn
phá, nhưng kinh tế – xã hội Việt Nam vẫn ổn định, tốc độ phục hồi nhanh, GDP ở
mức tăng trưởng dương (hơn 2,59%), nhân dân luôn tin tưởng vào chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, “sống và làm việc theo Hiến
pháp và pháp luật”, tích cực làm giàu cho bản thân, gia đình và tham gia xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, Việt Nam là quốc gia thành viên, thành viên tích cực,
có trách nhiệm cao của Liên hợp quốc trong thực hiện có hiệu quả phần lớn các Mục
tiêu phát triển thiên niên kỷ, nhất là trong việc xóa đói, giảm nghèo, chăm
sóc, bảo vệ sức khoẻ và tạo việc làm cho người dân. Đồng thời, có những đóng
góp tích cực, hiệu quả trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giữ vững các
nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế về nhân quyền; luôn tôn trọng, bảo đảm
các quyền cơ bản của người dân. Vì thế, uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế được khẳng định và không ngừng nâng cao. Việt Nam là thành viên của các
tổ chức quốc tế lớn, có uy tin trên thế giới và khu vực. Không chỉ là thành
viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam còn đã được bầu làm Ủy viên
không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ
ASEAN về nhân quyền,… với số phiếu đồng thuận, tín nhiệm cao.
Đó là điều không thể phủ nhận!
Việc RFA “Nhắm mắt” đưa ra nhận định
hồ đồ “Việt Nam thuộc nhóm nước phi dân chủ” là hoàn toàn phi lý, thiếu cơ sở,
không phản ánh đúng bản chất dân chủ của xã hội và thực tế diễn ra tại Việt
Nam. Mục đích của RFA là nhằm xuyên tạc, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phủ nhận những thành tựu của nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa; cổ vũ cho các hoạt động phi dân chủ, vi phạm pháp luật của những
tổ chức, phần tử chống cộng cực đoan, thiếu thiện chí trong và ngoài Việt Nam. Đồng
thời, vi phạm quyền con người, quyên công dân, vi phạm những quy tắc cơ bản
theo luật pháp quốc tế về thực thi dân chủ. Vì thế, cần phải lên án, bác bỏ./.