Hiển thị các bài đăng có nhãn Dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2025

UKraine và bài học đắt giá từ sự phụ thuộc vào công nghệ & vũ khí nước ngoài

 Sáng nay đọc được bài Ukraine mắc kẹt với Starlink của tỷ phú Musk mới thấy tình thế của Ukraine hiện rất nguy hiểm. Hệ thống internet vệ tinh Starlink của tỷ phú Elon Musk đã trở thành huyết mạch liên lạc của Ukraine trong cuộc xung đột với Nga, nhưng sự phụ thuộc này cũng đẩy Kiev vào thế dễ tổn thương trước những quyết định từ bên ngoài. Trong khi Liên minh châu Âu (EU) nỗ lực tìm lối thoát, trường hợp của Ukraine là lời cảnh báo rõ ràng cho các quốc gia khác về nguy cơ lệ thuộc vào công nghệ và vũ khí nhập khẩu - từ vệ tinh đến tên lửa, đạn dược, và tàu chiến. Lịch sử cùng kinh nghiệm tự chủ của Việt Nam chỉ ra rằng, để tránh thảm họa, các nước cần xây dựng năng lực nội tại song song với quan hệ quốc tế cân bằng.


Thiết bị Internet Starlink tại Kharkiv, Ukraine ngày 25/9/2022. Ảnh: AFP/TTXVN

Kể từ khi Nga mở rộng xung đột vào năm 2022, Starlink đã trở thành không thể thiếu đối với Ukraine, duy trì liên lạc cho quân đội, bệnh viện, và cơ sở hạ tầng dân sự. Với hơn 42.000 thiết bị triển khai tính đến năm ngoái, hệ thống này là nền tảng cho chiến lược chiến tranh hiện đại của Kiev. Tuy nhiên, quyền kiểm soát nằm trong tay Elon Musk - doanh nhân Mỹ và cố vấn thân cận của Tổng thống Donald Trump - đặt Ukraine trước nguy cơ bị cắt đứt bất cứ lúc nào. Musk từng tuyên bố hồi tháng 3: “Nếu tôi tắt Starlink, toàn bộ tiền tuyến của Ukraine sẽ sụp đổ.” Lời khẳng định này vừa nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ thống, vừa bộc lộ sự ảnh hưởng đáng lo ngại của một cá nhân đối với an ninh quốc gia Ukraine. Vụ việc năm 2022, khi Musk từ chối kích hoạt Starlink ở Crimea để hỗ trợ một cuộc tấn công bằng drone vào tàu Nga, càng minh họa rõ rệt: một quyết định từ SpaceX có thể làm chệch hướng kế hoạch quân sự của Kiev.

Nhận thấy mối nguy, EU đang gấp rút tìm kiếm giải pháp thay thế. Eutelsat, công ty vệ tinh Pháp-Anh, nổi lên như một lựa chọn tiềm năng. “Phụ thuộc vào Starlink nghĩa là chịu tác động từ những quyết định ở Washington hay Mar-a-Lago,” CEO Eutelsat Eva Berneke nói. “Chúng ta cần nhiều phương án hơn.” Tuy nhiên, với chỉ 600 vệ tinh so với 7.000 của Starlink, công suất của Eutelsat thấp hơn hàng chục đến hàng trăm lần, theo các chuyên gia. Dù có thể đáp ứng một số nhu cầu chính phủ, Eutelsat khó thay thế hoàn toàn Starlink. EU hiện đẩy mạnh đàm phán để tăng cường thiết bị và tài trợ cho Eutelsat, đồng thời phát triển dự án IRIS² - một chòm sao vệ tinh độc lập trị giá hàng tỷ euro. Nhưng với tiến độ chậm và chi phí tăng cao, IRIS² sẽ không hoạt động trước năm 2030, khiến Ukraine vẫn rơi vào tình thế bất an.

Trường hợp Starlink chỉ là một khía cạnh trong bức tranh lớn hơn về sự phụ thuộc vào công nghệ và vũ khí nước ngoài. Nhiều quốc gia khác cũng đối mặt với rủi ro tương tự. Lịch sử đã chứng minh: trong cuộc chiến Falklands năm 1982, Argentina mất quần đảo vào tay Anh khi Mỹ - nhà cung cấp vũ khí chính - ngừng hỗ trợ vào thời khắc quyết định. Tương tự, các tên lửa tiên tiến như Storm Shadow của Anh hay Taurus của Đức sẽ vô dụng nếu thiếu hệ thống dẫn đường từ Mỹ. Từ đạn dược, tàu chiến đến hệ thống phòng thủ, một sự gián đoạn từ nhà cung cấp có thể dẫn đến hậu quả thảm khốc. Các quốc gia không tự sản xuất được những khí tài thiết yếu dễ rơi vào cảnh tê liệt khi đối tác thay đổi chính sách - một bài học mà Ukraine đang trải qua và thế giới không thể bỏ qua.

Starlink vượt trội nhờ quy mô và công nghệ tiên tiến: mạng lưới vệ tinh khổng lồ, thiết bị nhỏ gọn, và hệ thống chùm tia linh hoạt. “Starlink mang đến giải pháp không ai sánh kịp,” Christopher Baugh, chuyên gia tại Analysys Mason, nhận định. “Nó lấp đầy khoảng trống mà không đối thủ nào làm được.” Dù cổ phiếu Eutelsat tăng vọt nhờ kỳ vọng thay thế tại Ukraine, các nhà phân tích vẫn cho rằng nỗ lực của EU chỉ như “muối bỏ bể.”

Tình thế của Ukraine gióng lên hồi chuông cảnh báo: làm sao để không rơi vào vòng xoáy phụ thuộc? Việt Nam mang đến một bài học đáng giá. Với lịch sử đấu tranh giành độc lập, Việt Nam đã xây dựng nền tảng tự chủ trong quốc phòng, từ sản xuất vũ khí nội địa đến phát triển công nghệ quân sự. Đồng thời, Hà Nội thực hiện chính sách ngoại giao đa phương, củng cố quan hệ với nhiều cường quốc mà không đặt mình vào sự lệ thuộc hoàn toàn vào bất kỳ ai. Cách tiếp cận này không chỉ giảm nguy cơ từ gián đoạn nguồn cung mà còn nâng cao vị thế chiến lược. Các quốc gia khác, đặc biệt là những nước đang phát triển, có thể rút ra kinh nghiệm: đầu tư vào năng lực tự sản xuất, đồng thời duy trì mạng lưới đối tác đa dạng để tránh bị thao túng bởi một nhà cung cấp duy nhất.

Ukraine hiện vẫn gắn chặt với Starlink - một sợi dây liên kết vừa thiết yếu vừa dễ đứt. EU đang cố gắng hóa giải sự phụ thuộc này, nhưng giải pháp bền vững cần thời gian và nguồn lực lớn. Bài học từ Ukraine vượt xa biên giới nước này: các quốc gia không chuẩn bị cho sự tự chủ trong công nghệ và vũ khí sẽ đối mặt với nguy cơ bị bỏ rơi vào lúc nguy cấp nhất. Con đường phía trước đòi hỏi sự kết hợp giữa tự cường nội lực và quan hệ quốc tế linh hoạt - đó là cách duy nhất để bảo vệ an ninh trong một thế giới bất định.

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2025

Lê Anh Tú (Thích Minh Tuệ): Tu hành hay kịch bản dàn dựng vì danh lợi?

 Gần đây, cái tên Lê Anh Tú, tự xưng là Thích Minh Tuệ, đã trở thành chủ đề gây tranh cãi trên mạng xã hội và truyền thông. Hình ảnh một người đàn ông đầu trần, chân đất, mặc y vá đi khất thực thu hút sự chú ý của nhiều người. Tuy nhiên, qua phân tích từ nhiều nguồn, đặc biệt là những ý kiến chỉ rõ các điểm bất thường trên các trang mạng, nhiều nghi vấn đã được đặt ra về bản chất thực sự của hành trình tu hành mà ông đang theo đuổi. Liệu đây có phải là một hành trình tâm linh chân chính hay chỉ là một kịch bản được dàn dựng tinh vi nhằm mục đích danh lợi?


Ông Lê Anh Tú có phải là tu sĩ chính thống?

Theo giáo luật Phật giáo, để được gọi là "sư" hay "tỳ kheo", một người phải trải qua quá trình xuất gia chính thức, thọ giới sa di, sau đó thọ giới tỳ kheo dưới sự hướng dẫn của Tăng đoàn và được Giáo hội Phật giáo công nhận. Ông Lê Anh Tú, sinh năm 1981 tại Hà Tĩnh, từng có thời gian tu tại chùa nhưng đã tự rời bỏ, không tiếp tục tu tập trong khuôn khổ Tăng đoàn. Sau đó, ông tự thực hiện việc khất thực mà không qua các nghi thức xuất gia hợp pháp. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đã khẳng định trong công văn ngày 16/5/2024 rằng ông Lê Anh Tú không phải là tu sĩ thuộc Giáo hội, không tu tập tại bất kỳ tự viện nào được công nhận. Như vậy, ông không đáp ứng điều kiện để được gọi là sa di hay tỳ kheo, và việc tự xưng pháp danh "Thích Minh Tuệ" không có cơ sở hợp lệ trong truyền thống Phật giáo chính thống.

Hành trì "hạnh đầu đà": Thiếu căn cứ giáo lý và giới luật

Nhiều ý kiến từ các bài viết và video trên mạng xã hội chỉ ra rằng ông Lê Anh Tú chưa nắm vững giáo lý và giới luật nhà Phật. Hành trì "hạnh đầu đà" (khổ hạnh) của ông, dù được một số người ca ngợi, lại thiếu sự hướng dẫn từ Tăng đoàn và không tuân theo các quy định trong Luật tạng (Vinaya). Khất thực trong Phật giáo không chỉ là việc đi xin ăn mà phải gắn liền với thực hành giới-định-tuệ và uy nghi của một tu sĩ được đào tạo. Cách hành trì của ông Tú mang tính tự phát, không dựa trên nền tảng giáo lý đầy đủ, thậm chí đôi khi bị hiểu sai thành "tu là phải khổ hạnh, lang thang". Điều này đi ngược lại tinh thần trung đạo mà Đức Phật dạy, vốn nhấn mạnh sự cân bằng và hài hòa trong tu tập.

Trong các clip được đăng tải trên mạng xã hội, ông Tú thường xuất hiện với hình ảnh khất thực, nhưng cách ông tương tác với người dân và những phát ngôn của ông cho thấy sự thiếu chuyên nghiệp và không phù hợp với uy nghi của một tu sĩ. Ông thường xuyên đưa ra những lời giải thích mơ hồ, thiếu căn cứ về giáo lý, đồng thời thể hiện thái độ bất cần và có phần ngạo mạn với những người xung quanh. Điều này càng củng cố nghi ngờ rằng hành trình của ông không phải là một quá trình tu tập tâm linh nghiêm túc, mà là một kịch bản được dàn dựng để thu hút sự chú ý và tạo dựng hình ảnh cá nhân.

Các phát ngôn và hành động mâu thuẫn

Các phát ngôn và hành động của ông Tú trong suốt hành trình cho thấy nhiều điểm mâu thuẫn và hạn chế về đạo đức tu hành cũng như nhận thức của ông. Ông từng trả lời phỏng vấn với những giải thích ngô nghê, tiền hậu bất nhất, thể hiện sự hằn học với những người có uy tín hơn như anh Đoàn Văn Báu - một nhân vật từng đồng hành và hỗ trợ ông. Ông Lê Anh Tú cũng bị chỉ trích vì lựa chọn nhân sự đi theo mình là những người có tâm không tốt, thái độ vô ơn với những người đã giúp đỡ, và chưa thể hiện sự từ bi, hỉ xả - những phẩm chất cốt lõi của một người tu hành. Nhiều lần, ông đưa ra kết luận sai lệch về bản chất vấn đề, làm dấy lên nghi ngờ về sự chân thành và khả năng tự nhận thức của ông.

Trong các clip, ông Tú còn có những phát ngôn mang tính chất đối đầu với những người chỉ trích mình, thậm chí có phần hằn học và thiếu sự từ bi, hỉ xả. Ông từng nói rằng những người không ủng hộ mình là "thiếu hiểu biết" và "không có duyên với Phật pháp". Những phát ngôn này không chỉ làm tổn hại đến hình ảnh của ông mà còn khiến nhiều người nghi ngờ về động cơ thực sự của ông trong hành trình này.

Kế hoạch sang Ấn Độ: Nghi vấn về một kịch bản được dàn dựng

Cách đây vài tháng, ông Lê Anh Tú tuyên bố muốn sang Ấn Độ để tu tập, hành trình sẽ phải bộ hành qua các nước như Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và Bangladesh... Tuy nhiên, kế hoạch này đối mặt với nhiều trở ngại, đặc biệt là vấn đề visa vào Myanmar - quốc gia đang đóng cửa biên giới do nội chiến và bất ổn. Một số ý kiến cho rằng ông cố tình trì hoãn việc chuẩn bị giấy tờ, gây khó cho người làm visa để không kịp gia hạn visa, nhằm tạo cớ không thể nhập cảnh Myanmar. Hành động này được nhận định là một phần của kịch bản nhằm để cảnh sát Thái Lan trục xuất ông về Việt Nam, qua đó giữ thể diện mà vẫn đạt được mục đích sâu xa.

Trong các clip, ông Tú thường xuyên nhắc đến việc "phó mặc cho duyên nghiệp" và "để Phật pháp dẫn đường", nhưng lại không đưa ra được lộ trình cụ thể hay giải pháp cho những khó khăn về visa và nhập cảnh. Điều này càng làm dấy lên nghi ngờ rằng kế hoạch sang Ấn Độ chỉ là một phần của kịch bản nhằm tạo dựng hình ảnh "tu hành khổ hạnh" và thu hút sự chú ý từ công chúng.

Mục tiêu sâu xa: Xây dựng hệ phái tôn giáo mới?

Nhiều tình tiết trong hành trình của ông Tú gợi liên tưởng đến các câu chuyện huyền thoại như "Cuộc đời Đức Phật" của Ấn Độ hay "Tây Du Ký" của Trung Quốc. Việc ông cố tình nhận thêm nhiều người đi theo, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự (ANTT), có thể là một chiến lược để chính quyền các nước từ chối nhập cảnh, tạo lý do hợp lý cho việc bị trục xuất. Điều này không chỉ giúp ông giữ được hình ảnh mà còn củng cố vị thế trong mắt những người ủng hộ thiếu hiểu biết. Mục tiêu cuối cùng, theo nhận định cùa một số người, là biến Thiên Định Tuệ thành một ngôi chùa, biến hành trình của ông thành nền tảng cho một hệ phái mới, với ông Tú đóng vai trò giáo chủ, nhằm kiếm tiền và danh tiếng.

Lời kết

Với các diễn biến hiện tại, có thể khẳng định đến 90% rằng hành trình sang Ấn Độ của ông Lê Anh Tú là không thể thực hiện được, không chỉ do vấn đề visa mà còn bởi ý đồ sâu kín của ông. Hành động cố tình gây khó dễ cho chính mình, từ việc trì hoãn giấy tờ đến việc thu hút đám đông gây mất an ninh trật tự, cho thấy ông đang tìm cách quay về Việt Nam dưới hình thức bị trục xuất, qua đó giữ thể diện và có thể (có thể thôi) tiếp tục kế hoạch lập giáo phái mới, như lời em trai ông và anh Đoàn Văn Báu đã vài lần hở ra.

Dù những phân tích trên đây chỉ là nhận định, nhưng trước tình hình này, các cơ quan quản lý cần tỉnh táo, chủ động có phương án ứng xử đúng pháp luật để ngăn chặn những hậu quả tiềm tàng. Đồng thời, người dân cần nâng cao nhận thức, tránh bị cuốn vào những hiện tượng thiếu cơ sở như trường hợp của ông Lê Anh Tú, để bảo vệ sự trong sáng của tín ngưỡng, tôn giáo và trật tự xã hội.

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2024

Xuyên tạc sự kiện 45 kỷ niệm Chiến tranh Biên giới bằng tin giả!

Cứ đến dịp kỷ niệm Chiến tranh Biên giới phía Bắc, Việt tân và đồng bọn dán nhãn “đấu tranh dân chủ” lại nhai đi nhai lại chiêu bài, thủ đoạn xuyên tạc, bịa đặt hòng kích động người dân hoài nghi chủ trương, chính sách đối ngoại, quan hệ với Trung Quốc của Đảng, Chính phủ Việt Nam. Năm nay, bên cạnh những luận điệu vu cáo quen thuộc được đem ra xào lại, kiểu như: cuộc chiến tranh này bị “lãng quên”, không được đưa vào Sách giáo khoa, không tri ân các chiến sỹ hy sinh cho cuộc chiến này … vốn đã bị chính các cựu chiến binh Chiến tranh Biên giới, truyền thông, người dân bóc mẽ, phản bác nhiều năm nay, thì họ còn bịa đặt tin giả, dựng chuyện nhằm kích động, bôi nhọ chế độ liên quan đến cuộc chiến này. Xin lấy một số ví dụ sau:

Thứ nhất, họ vu cáo rằng Ban Tuyên giáo đã ép buộc báo Vietnamnet gỡ bỏ bài viết “45 năm chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc: Để lịch sử không lặp lại đau thương”, vu cáo “cho đây là lệnh của Ban Tuyên giáo muốn chối bỏ lịch sử, không dám nói lên sự thật, chịu nhục nhã trước kẻ thù xâm lược Trung Quốc”. Thực tế, khi tìm kiếm bài viết nói trên, hiện vẫn còn “nguyên bản” trên trang Vietnamnet. Xem link https://vietnamnet.vn/45-nam-chien-dau-bao-ve-bien-gioi-phia-bac-de-lich-su-khong-lap-lai-dau-thuong-2249603.html

Ngoài ra, họ còn vu cáo Đảng, Nhà nước, báo chí “lãng quên” cuộc chiến, im lặng vì sợ Trung Quốc, vì hèn,… bất chấp thực tế có hàng chục bài báo được đăng trước, và đúng ngày kỷ niệm sự kiện, nói trực diện, lên án kẻ xâm lược?!?

Thứ hai, họ chế tác tấm bia tưởng niệm một bà mẹ Việt Nam Anh hùng có nhiều con hy sinh trong 3 cuộc chiến tranh xâm lược Mỹ, Pháp, Trung Quốc để công kích không dám đề tên liệt sỹ chống Tàu là “hèn nhát”. Tuy nhiên, nhìn vào tấm bia này, ai cũng thấy ngay đó là sản phẩm bịa đặt hớ hênh vì 1 liệt sỹ chống Pháp hy sinh năm 2003 hay liệt sỹ chống quân xâm lược Trung Quốc hy sinh vào thời điểm trước khi nổ ra cuộc tấn công!

Thứ ba, họ bịa đặt lố bịch, vô lí đến mức cho rằng, đến nay các liệt sỹ trong cuộc chiến này không được Tổ quốc ghi công. Vậy hàng loạt nghĩa trang liệt sỹ trong cuộc chiến tranh Biên giới này đều được thừa nhận là “liệt sỹ” được đưa vào nghĩa trang với dòng chữ “Tổ quốc ghi công”, thân nhân các liệt sĩ đều được hưởng chính sách đãi ngộ y như các liệt sỹ trong các cuộc chiến bảo vệ chủ quyền, giành độc lập khác sờ sờ ra đó thì sao?

Một vài ví dụ kể trên cho thấy, Việt tân và đám đồng bọn mang danh “đấu tranh dân chủ” kia không chỉ xuyên tạc lịch sử, tung ra các luận điệu xảo trá, mà còn bịa đặt trắng trợn, dối trá không cần liêm sỉ miễn là sản xuất thật nhiều tin bài công kích, chửi bới chế độ vào đúng dịp này, không cần quan tâm thật giả, bị dư luận bóc mẽ, lên án.

Đây là cách mà họ tự sơn phết cho mình là “yêu nước”, “đấu tranh dân chủ nhân quyền cho Việt Nam”, “truyền thông độc lập”, “nhà báo tự do”,… bằng sự giả dối này? Cách thức “đấu tranh”, “yêu nước” kiểu này, bảo sao đám tay chân, đồng bọn của Việt tân bị công an bắt, xử lý với chứng cứ rõ ràng là bịa đặt, xuyên tạc, dựng chuyện nhằm mục đích chống chính quyền thì lại bị vu cáo, đặt điều là “trả thù người yêu nước”, “đàn áp người bất đồng chính kiến”?!?

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2023

Việt Nam Hùng Cường!

 Lợi dụng sự kiện Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự Diễn đàn cấp cao Vành đai và Con đường lần thứ 3 tại Trung Quốc vừa qua, một số trang, nhóm, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức phản động, cơ hội chính trị phát tán nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc mối quan hệ giữa hai nước cho rằng Việt Nam chịu sự chi phối của Trung Quốc; kích động chia rẽ quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước: Trung Quốc, Nga, Mỹ, v.v. Đây là những luận điệu phi lý cần đấu tranh, lên án.


Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và các trưởng đoàn
tham dự diễn đàn (Ảnh: TTXVN)

Trước hết, phải khẳng định rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, vì hòa bình, phát triển ổn định trong khu vực và trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 nước, vùng lãnh thổ trên thế giới (có cả 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc); trong đó, có 33 nước là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; 05 nước là đối tác chiến lược toàn diện (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ).

Sự kiện Chủ tịch nước tham dự Diễn đàn cấp cao Vành đai và Con đường lần thứ 3 tại Trung Quốc vừa qua là sự cụ thể hóa, tiếp tục khẳng định quan điểm, đường lối đối ngoại của nước ta với cộng đồng quốc tế. Chuyến đi lần này có ý nghĩa hết sức quan trọng trên cả bình diện song phương và đa phương. Trên bình diện đa phương, trong bối cảnh các nước mong muốn tăng cường các liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu để thúc đẩy quá trình phục hồi kinh tế, vì vậy sự tham dự của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với chủ nghĩa đa phương và sự chủ động tích cực trong việc tăng cường hợp tác, liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu. Trên bình diện song phương, đây là hoạt động đối ngoại cấp cao trong năm, kỷ niệm 15 năm quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc, góp phần tăng cường tin cậy chính trị, duy trì mối quan hệ và tạo ra những cơ hội hợp tác mới, đưa quan hệ hai nước Việt Nam - Trung Quốc phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững hơn trong thời gian tới.

            Thông qua việc tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác đã mở ra nhiều cơ hội để phát triển kinh tế đất nước. Năm 2022, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc đạt 175,57 tỉ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 57,7 tỉ USD, trong khi nhập khẩu 117,87 tỉ USD. Đến hết tháng 8/2023, quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc đạt 105,45 tỉ USD; trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 36,61 tỉ USD, tăng 2,35% so với cùng kỳ năm 2022. Hiện nay, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, chiếm 16% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Trước đó, trong tháng 9/2023, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có chuyến thăm, làm việc tại Mỹ ngay sau khi Tổng thống Joe Biden đến Việt Nam để tăng cường, phát triển mối quan hệ, mở rộng hợp tác, thu hút đầu tư, tạo sự phát triển bứt phá cho nền kinh tế đất nước. Bởi, Mỹ là một trong những đối tác chiến lược toàn diện, là thị trường lớn của Việt Nam trong thời gian qua. Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đạt mốc 100 tỉ USD lần đầu vào năm 2021 (đạt 111,55 tỉ USD); trong đó, xuất khẩu của Việt Nam đạt 96,27 tỉ USD và nhập khẩu đạt 15,28 tỉ USD. Năm 2022, dù đối mặt nhiều khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 song thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ vẫn có sự tăng trưởng với quy mô kim ngạch đạt gần 124 tỉ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2023, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đạt gần 80,5 tỉ USD, Hoa Kỳ tiếp tục là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam.

Thực tế trên cho thấy, thông qua việc đẩy mạnh quan hệ đối ngoại đã góp phần quan trọng đưa nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển. Các chuyến công tác, làm việc tại nước ngoài của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành,… đều vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì sự phát triển đất nước hùng cường. Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam thực hiện quan hệ bình đẳng với tất cả các nước, kể cả các nước lớn, bảo đảm cùng có lợi, vì hòa bình, ổn định, cùng phát triển và không chịu sự chi phối của bất kỳ quốc gia nào, thế lực nào khác.

Sự xuyên tạc, suy diễn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị về đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta là vô căn cứ. Chúng sẽ không đạt được mục đích gì trước sự nhất quán, đúng đắn, linh hoạt, mềm dẻo trong đường lối đối ngoại của Việt Nam./.

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

Tự xưng đi "ban phát" dân chủ nhân quyền, nhưng họ lại trực tiếp nhúng tay vào chính trị Việt Nam

 


1. Do sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới nên phương thức dùng bạo lực, chiến tranh xâm lược nước khác đã trở nên lỗi thời. Vì vậy, thay thế phương thức này, “diễn biến hoà bình” được phương Tây xác định là chiêu thức mới, “độc chiêu”, “đặc biệt hiệu quả” để áp đặt các giá trị “tự do”, “dân chủ” và “nhân quyền” của phương Tây vào Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.

Với toan tính chuyển hoá các nước theo quỹ đạo của CNTB, phương Tây thực hiện tham vọng sắp đặt lại trật tự thế giới mà họ làm “bá chủ”, thống trị hành tinh. Với chiêu thức này, phương Tây đã ngộ nhận rằng, họ “đứng trên tất cả”, là “trung tâm văn hoá” của nhân loại, có quyền “ban phát nhân quyền” cho các dân tộc. Vì thế, họ ra sức ca ngợi văn hóa phương Tây, tán dương sứ mệnh “cứu loài người”, xây dựng “thế giới văn minh”. Đây là cái cớ đó để họ “can thiệp ngày càng sâu rộng vào công việc nội bộ của nhiều nước”. Nếu quốc gia, dân tộc nào làm trái ý họ thì lập tức, bị phương Tây đưa vào danh sách “cần theo dõi” về “dân chủ” và “nhân quyền”. Từ đó, họ thực hiện chiêu thức “ép buộc các nước phải quay theo vòng xoáy” của họ, thông qua việc ràng buộc bằng những cam kết về “viện trợ kinh tế”, “giúp đỡ nhân đạo” ép các nước đang phát triển phải làm theo ý muốn của họ, v.v..

Vì thế, họ tung ra luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, coi đó là “chuẩn mực” để thực hiện “chủ nghĩa can thiệp mới”; biến nạn nhân thành tội phạm, biến tội phạm thành “thánh nhân”, biến “kẻ đi ăn cướp thành xứ giả nhà trời”, thực hiện sứ mệnh cứu vớt loài người. Cuộc chiến tranh ở Côxôvô, Irắc, Ápganistan…; đặc biệt là việc cung cấp vũ khí, các phương tiện quân sự và hàng tỷ đô la để biến cuộc xung đột Nga – Ucraina thành “cuộc chiến tranh ủy nhiệm” do phương Tây và NATO cầm đầu đã nói lên điều đó…

Phải chăng người tự xưng phân phát “nhân quyền” lại chính là kẻ đang cướp đi quyền sống của những người dân vô tội, dày xéo lên độc lập, chủ quyền của các nước mà họ sắm vai “vừa ăn cướp vừa la làng”, “vừa là tội phạm vừa là thánh nhân”. Bởi cái điều mà họ hứa đem đến “dân chủ”, “nhân quyền”, cuộc sống giầu sang, sung sướng thì chẳng thấy đâu, chỉ thấy nơi nào họ đến thì ở đó đổ máu với những vụ đánh bom liều chết, sự tàn khốc của khủng bố với hàng chục ngàn người dân bị thiệt mạng, hàng triệu người dân phải bỏ quê quán, sống lưu vong.

2. Với Việt Nam, người phương Tây đang tỏ thái độ là “bề trên”, “vị quan tòa”, được quyền để phán xét “nhân quyền ở Việt Nam”. Bằng mọi cách, họ đã và đang tung tin bịa đặt, nào là “Việt Nam hạn chế quyền riêng tư của công dân”, “nào là “Việt Nam vi phạm quyền con người”, “Việt Nam đàn áp dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên”, “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, v.v.. Việc bịa đặt, dàn dựng những câu chuyện hoang đường, hết sức phi lý ấy đều nhằm mục đích: kích động những phần tử bất mãn, phản động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN ở nước ta. Cùng với đó, tập hợp lực lượng, tạo dựng ngọn cờ, phe cánh, gây “điểm nóng” thông qua xung đột sắc tộc, tôn giáo, làm rối loạn tình hình chính trị – xã hội và khi có điều kiện thì tổ chức bạo loạn lật đổ, ví như vụ khủng bố ở Đắc Lắc (Tây Nguyên) tháng 6-2023 vừa qua…

 Sự can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Đảng, Nhà nước Việt Nam thể hiện ở việc vu cáo, vu khống, buộc tội vô căn cứ “Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ và nhân quyền”. Tại sao họ ở tận bên kia bán cầu, cách Việt Nam gần nửa vòng trái đất nhưng lại họp bàn, thông qua “đạo luật nhân quyền ở Việt Nam” với các màn kịch lắm “chương, nhiều tiết”, được chuẩn bị rất công phu, tốn kém, để vu cáo, áp đặt “Việt Nam vi phạm nhân quyền” rồi lôi kéo “Việt Nam thực hiện nhân quyền theo kiểu phương Tây” với tham vọng: Việt Nam ngả theo phương Tây. Bày đặt ra câu chuyện ảo tưởng này, người phương Tây mong muốn Việt Nam điều gì? Phải chăng họ muốn giúp đỡ Việt Nam, chuộc lại “lỗi lầm” vì đã đem quân xâm lược nước ta suốt 21 năm trời và tiếp tay cho các vụ bạo loạn ở Tây Nguyên trong những năm 2001, 2004, 2008 và mới đây, vụ khủng bố ở Đắc Lắc…

Hơn ai hết, chúng ta hiểu rằng, đằng sau cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền”, “viện trợ kinh tế”, “ngoại giao thân thiện” và “hợp tác hữu nghị” là mưu đồ chính trị: chuyển hóa Việt Nam theo quĩ đạo của CNTB, biến Việt Nam thành “sân sau” của phương Tây, làm cho Việt Nam phụ thuộc vào kinh tế, chính trị của họ. Đó là cái đích mà phương Tây muốn hướng tới. Vì thế, họ tuyên truyền rùm beng về sự cần thiết phải “nâng cấp mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam”, không muốn là “đối tác hạng hai” trong so sánh quan hệ của Việt Nam với các nước trong Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc… Đây là vấn đề lớn, chắc chắn Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng của Việt Nam sẽ tính liệu cẩn trọng, chu đáo, hợp tình, hợp lý và tiến hành khi điều kiện chín muồi.

Chúng ta ghi nhận thiện chí của họ khi muốn làm những điều tốt đẹp cho Việt Nam vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển vì sự tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, chúng ta phản đối việc lợi dụng vấn đề trên để đưa ra các chiêu bài “tự do”, “dân chủ” và “nhân quyền” để vu khống, cáo buộc phi lý đối với Việt Nam. Hơn thế, chúng ta phản đối mọi tổ chức, cá nhân đã “chống lưng” cho các tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài quậy phá, chống đối sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Mong muốn nhiều điều tốt đẹp sẽ đến, sẽ tới cho Việt Nam; song, chúng ta cũng đều đã rõ: “hãy bình tĩnh xem họ làm chứ đừng xem họ nói”.

Hơn ai hết, nhân dân Việt Nam đã trải qua những cuộc chiến tranh chống quân xâm lược, đã chịu mất mát, hy sinh nên rất quý trọng hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Chúng ta biết rõ ai, tổ chức nào có thiện chí, muốn giúp đỡ Việt Nam thành tâm, và ai, tổ chức nào có âm mưu, thủ đoạn cản trở sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tế chỉ ra rằng, phương Tây không đến Việt Nam để làm từ thiện; không giúp đỡ Việt Nam một cách hoàn toàn vô tư, trong sáng, “không bao giờ cho chúng ta tiền của mà không có sự mặc cả”. Vì vậy, hỡi những người “nhẹ dạ cả tin”, đừng lầm tưởng về “lòng tốt”, “sự nhân đạo” của phương Tây; mọi cái họ “cho chúng ta” đều có giá, đều là sự mặc cả mà phần lợi hơn thuộc về họ.

3. Rõ ràng là, dùng chiêu bài “tự do”, “dân chủ” là chưa đủ sức mạnh để “thu hút”, “kêu gọi” nên phương Tây bổ sung thêm chiêu bài “nhân quyền” và “ngoại giao thân thiện” nhằm dễ bề tiếp cận, quay trở lại Việt Nam và dễ bề che đậy cái mưu đồ lái Việt Nam theo con đường TBCN – quỹ đạo mà phương Tây đã vạch sẵn, muốn biến Việt Nam thành sân sau của họ.

Chúng ta luôn nhất quán quan điểm: Việt Nam sẵn sàng làm bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, chúng ta muốn “khép lại quá khứ, nhìn về tương lai”. Điều ấy rất đúng, rất cần nên chúng ta chấp nhận “vừa hợp tác vừa đấu tranh”, “thêm bạn, bớt thù” nhưng phải dựa chắc trên nguyên tắc: tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế; tôn trọng lẫn nhau, hai bên cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Vì lẽ đó, Việt Nam thực hiện đường lối “ngoại giao cây tre” và chính sách quốc phòng “bốn không”…để gìn giữ hòa bình và phát triển đất nước bền vững; con cháu không phải sống trong chiến tranh, đổ máu.

Chúng ta hiểu rõ rằng, trong bối cảnh quốc tế hiện thời, Việt Nam đứng trên lập trường trung lập, chọn lẽ phải và chính nghĩa để tiếp tục công cuộc đổi mới, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vì thế, chúng ta “khép lại quá khứ” nhưng không bao giờ “đóng chặt quá khứ” khi bước đến tương lai. Chúng ta luôn tỉnh táo, sáng suốt thực hiện đường lối đổi mới của Đảng nhưng cũng luôn đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng và khôn khéo xử lý các về “đối tác và đối tượng”; biết tiến, biết lùi, biết xử lý ổn thỏa mọi vấn đề “nhạy cảm”, phưc tạp trước các chiêu bài “nhân quyền” đi kèm với “dân chủ ” mà phương Tây đang áp dụng đối với Việt Nam.

Thông qua các chiêu bài nêu trên, người phương Tây muốn đến Việt Nam bằng nhiều cách; trong đó, cái cách “mềm dẻo nhất, hiệu quả nhất” là vừa tạo dựng được hình ảnh tốt đẹp, vừa thực hiện được mưu đồ “luồn sâu, leo cao” vào các tổ chức kinh tế, chính trị – xã hội ở Việt Nam để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Từ đó, gây dựng cơ sở, thực hiện “nội công, ngoại kích”, chống phá ta trên nhiều mặt trận, cả chính trị, kinh tế, giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ, cả văn hóa, ngoại giao, quân sự và an ninh.

Cần nhớ rằng, một trong những nội dung cốt lõi của vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” ở Việt Nam là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Vì thế, hai trong nhiều vấn đề then chốt của học thuyết “nhân quyền phương Tây đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đây là chiêu thức hữu hiệu để họ giành lại “chiến thắng trong hòa bình”, cái điều mà họ mong muốn, đã rất cần nhưng để tuột trong cuộc chiến tranh gần 50 năm trước đây, bởi Chiến thắng 30-4 của quân và dân ta.

Nhìn lại mà xem, từ trước đến nay, ai không thừa nhận chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang xây dựng; ai đã tuyên bố: chừng nào ở Việt Nam còn có Đảng Cộng sản lãnh đạo thì chừng ấy ở đất nước này vẫn sẽ còn chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vẫn sẽ đi theo con đường CNXH và chính điều đó là lực cản lớn nhất đối với họ trở lại Việt Nam, là trái với ý đồ, đi ngược lại sự mong muốn của phương Tây. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là “nguyên nhân” cản trở họ thực hiện giấc mộng làm chủ thế giới với tư cách là một siêu cường, v.v..

Vì lẽ đó, mấy chục năm nay, phương Tây luôn luôn vu cáo Việt Nam “vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, “vi phạm nhân quyề”, lấy nó làm cái cớ để xuyên tạc, tuyên truyền sai trái, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Qua đó, khuyến khích, kích động những phần tử bất mãn, phản động trong các tôn giáo nổi dậy chống đối Đảng, Nhà nước ta; phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hạ thấp uy tín của Đảng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta.

Thực chất của vấn đề “nhân quyền” là một chiêu thức mà các thế lực thù địch tiến hành là áp đặt các “giá trị nhân quyền kiểu phương Tây” vào Việt Nam. Đây hoàn toàn không phải vì nhân quyền đích thực mang giá trị nhân đạo, nhân văn, cũng chẳng phải là lòng tốt, sự yêu thương, chăm sóc của giới cầm quyền phương Tây “ưu tiên, dành riêng cho Việt Nam”.

4. Sự thật vẫn là sự thật và bản thân nó chứa đựng các giá trị chân lý, không ai có thể dùng ý muốn chủ quan để áp đặt, chà đạp lên nó; Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ở Việt Nam do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo gần 37 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Bộ mặt của đất nước sau 48 năm kết thúc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đã hoàn toàn khác trước đổi mới. Đất nước đã hồi sinh và đang phát triển mạnh mẽ, đời sống của gần 100 triệu dân Việt Nam ngày càng được cải thiện, được nâng lên không ngừng. Nhờ đó, tự do, dân chủ, quyền con người luôn được tôn trọng, đề cao; nhân dân được hưởng hạnh phúc.

Đạo lý của dân tộc Việt Nam chỉ rõ: Công việc ở Việt Nam là của người Việt Nam, phải do người Việt Nam tự lo liệu, không cần sự quan tâm thái quá của bất cứ quốc gia, dân tộc nào dưới các chiêu bài “mị dân”, lừa gạt “dân chủ” và “nhân quyền”.

Chiêu trò nhân danh, giả danh nhân nghĩa để ban phát “tự do, dân chủ, nhân quyền” đã bị phơi bày, bị lộ tẩy, nên những tổ chức, cá nhân lợi dụng chiêu bài “nhân quyền” ở Việt Nam không thể lừa bịp được ai, nhất là khi bản thân các người ấy đang trắng trợn vi phạm nhân quyền. Hãy nghiên cứu kỹ lịch sử của dân tộc Việt Nam, các người sẽ hiểu bài thơ bất hủ của lão tướng Lý Thường Kiệt: “Sông núi nước Nam Vua Nam ở/ Dành dành định phận ở sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”./.

 

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

XUYÊN TẠC SỰ THẬT ĐỂ CHE GIẤU Ô NHỤC: ĐAU ĐỚN THAY CHO NGƯỜI HÀN THƯỢNG ĐẲNG!

 


Hầu như một đất nước nào cũng đều trải qua các giai đoạn thịnh suy thăng trầm khác nhau. Thậm chí có những đế chế đã từng trải qua những thời kỳ huy hoàng thịnh trị, nhưng rồi sau cũng bị diệt vong trong dòng thời gian lịch sử.
Vậy nên, trong suốt chiều dài lịch sử của một dân tộc – vẫn luôn có những triều đại khiến người ta tự hào, nhưng lại có những giai đoạn mà khi nhắc tới lại chỉ có ô nhục.
Với người Hán và nhà Tống (của Trung Quốc), thì sự kiện Tĩnh Khang là mối nhục muôn đời. Đó là vào ngày 21/08/1128, hai vua Triệu Cát – Triệu Hoàn và hoàng tộc nhà Tống bị ép phải cởi trần, khoác trang phục của người Kim (áo da cừu) đến quỳ lạy ở miếu Kim Thái Tổ rồi lên điện Càn Nguyên yết kiến vua Kim.
Kết cục là, hai vua Tống bị tù đầy và phải chịu nhục như nô lệ rồi chết trong cảnh giam cầm. Hoàng hậu của Khâm Tông là bậc mẫu nghi thiên hạ thì phải tự vẫn để bảo toàn khí tiết, thái tử và nhiều hoàng tử bị giết, nhiều công chúa bị dâm ô cưỡng hiếp, bị bắt làm thê thiếp, nô tỳ. Hàng chục triệu người dân chịu cảnh nước mất nhà tan, gần một nửa giang sơn Đại Tống rơi vào tay giặc.
Sự biến Tĩnh Khang là mối quốc hận to lớn chưa từng thấy đối triều đình và thần dân nhà Tống, và cũng là nỗi nhục hiếm thấy đối với 1 triều đại lớn trong lịch sử Trung Quốc
Với người Việt chúng ta, mối nhục muôn đời là về những vị vua/hoàng đế đê hèn, nhiều lần khom lưng quỳ gối trước ngoại bang. Đó là Lê Chiêu Thống đê hèn bán nước, lại vâng lệnh gọt tóc theo kiểu người Thanh.
Hay như Nguyễn Ánh, kẻ 5 lần 7 lượt “cõng rắn cắn gà nhà”, có thể nói vì mưu đồ quyền lực mà không việc đê hèn gì mà Ánh không làm. Đáng tiếc, kẻ này sau này lại có thể lên ngôi, thành vua Gia Long khai sáng ra nhà Nguyễn.
Nếu như Việt Nam chúng ta chưa từng có ý định che giấu những sự kiện ô nhục này, thậm chí còn lấy đó làm điều răn để hậu thế khắc ghi - thì lại có một đất nước (chinh xác là chư hầu) hàng ngày nói dối để tự huyễn bản thân là thượng đẳng!
Hay với người Hàn Quốc hay Triều Tiên, thì đều là dân Choson – dân tộc Triều Tiên, và một trong những dấu mốc nhục nhã nhất trong lịch sử dân tộc đó chính là quốc vương của họ - Triều Tiên Nhân Tổ từng vứt bỏ tôn nghiêm, tam quy cửu khấu (3 quỳ 9 lạy) trước Hoàng Thái Cực (Mãn Thanh) như một kẻ tôi tớ hèn mọn.
Cụ thể, tháng 12/1636 năm đó, lấy lý do Triều Tiên phản bội minh ước, Hoàng Thái Cực đích thân xuất chinh, dẫn 12 vạn quân Bát kỳ Mãn Châu, Mông Cổ và Hán quân, một lần nữa xuất quân đánh chiếm Triều Tiên.
Triều Tiên đại bại, vua Nhân Tổ chạy đến Nam Hán Sơn Thành trên đỉnh núi Nam Hán ngoại ô Hán Thành rồi bị vây hãm tại đây. Quân Triều Tiên cố thủ trong các thành lũy, chết đói chết rét do khan hiếm lương thực và vũ khí. Đa Nhĩ Cổn chiếm đóng đảo Giang Hoa trong một ngày để bắt giữ con trai thứ hai và hậu cung của vua Nhân Tổ.
Cuối cùng sau 47 ngày cố thủ, Triều Tiên Nhân Tổ buộc phải chấp nhận ký hòa ước Tam Điền Độ với quân Thanh, với những điều khoản nhục nhã như:
- Triều Tiên trở thành phiên thuộc của nhà Thanh và phải triều cống hàng năm
- Triều Tiên phải để hai con trai của vua Nhân Tổ đến Thịnh Kinh làm con tin.
- Triều Tiên phải xuất binh mã, chiến thuyền hỗ trợ khi nhà Thanh đánh Minh triều.
- Triều Tiên không được tu bổ thành trì khi chưa được phép của nhà Thanh.
Ngày 30/1/1637, vua Nhân Tổ Triều Tiên đến đại doanh của Hoàng Thái Cực thực hiện 3 lần quỳ 9 lần lạy với đại hãn nhà Thanh. Hoàng Thái Cực cho dựng bia “Công đức Hoàng đế Đại Thanh” ở Tam Điền Độ rồi rút lui. Kể từ đó, Triều Tiên trở thành chư hầu trung thành với nhà Thanh cho đến năm 1895, khi Trung Quốc thất bại trước Nhật Bản trong chiến tranh Giáp Ngọ (1894 - 1895).
Cho đến chiến tranh Triều Tiên, đất nước Triều Tiên bị xé đôi, nửa nam trở thành Hàn Quốc, nửa bắc là CHDCND Triều Tiên. Tính ra, chỉ CHDCND Triều Tiên mới là quốc gia độc lập, chứ Hàn Quốc chỉ là chư hầu của Mỹ, có lẽ mang trong mình sẵn tâm lý cam tâm uốn gối nên giờ cũng quen.
Tuy khom lưng quỳ gối, nhưng để rửa nhục thì Hàn Quốc chọn lược bỏ các yếu tố văn hóa – lịch sử truyền thống, và dùng phim ảnh để dần tẩy trắng vết nhơ.
Có thể nói, về cơ bản, phim Việt Nam Trung Quốc phần nào phản ánh thực trạng xã hội Việt, còn phim Hàn Quốc lại hướng tới một xã hội người Hàn Quốc mong muốn.
Năm 2020, bộ phim tâm lý tình cảm lãng mạn Quân vương bất diệt do tài tử Lee Min Ho thủ vai chính gây sốt cộng đồng mạng xứ Kim Chi. Phim này lấy bối cảnh giả tưởng về hai thế giới song song giữa Đại Hàn Dân Quốc và Đại Hàn Đế Quốc (lịch sử quá khứ Hàn).
Và, lịch sử của Đại Hàn Đế Quốc thì rất khác với lịch sử thực tế, nó được phân nhánh vào năm 1636, dấu mốc nhục nhã nhất của người Triều Tiên.
Nhưng ở vũ trụ trong phim, Thái tử So Hyeon (Chiêu Hiến) đã lãnh đạo quân đội và nhân dân đứng lên kháng chiến thành công, đánh bại quân Thanh. Và thế là đất nước Triều Tiên thống nhất từ Bắc tới Nam, thậm chí còn phát triển thịnh vượng và mạnh mẽ và trở thành Đế quốc (Nhưng chả hiểu sao, làm Hoàng Đế rồi mà vẫn quen mặc Hồng bào chứ không dám mặc Long bào thêu rồng 5 vuốt. Hay do thói quen nó ăn vào máu rồi chăng?)
Đại Hàn Đế Quốc có tận 03 thủ đô, Bình Nhưỡng là thủ đô kinh tế, Hán Thành là thủ đô hành chính còn Busan là thủ đô văn hóa. Hoàng đế Đại Hàn cho rời Hoàng gia về Busan, trong một thế đứng đầu ngọn sóng để đối đầu với Nhật Bản, kiểu tâm thái “đứng thẳng hiên ngang”, không phải quỳ lạy bất kỳ ai.
Có lẽ đây là khát khao cháy bỏng của người dân tộc Triều Tiên, vì thực tế thì lại ngược hoàn toàn.
Hay như phim Little women, các nhân vật trong 8 tập phim này đã nhiều lần mô tả chiến tranh ở Việt Nam với sự xuyên tạc đến trắng trợn và phi lý.
Cụ thể, bộ phim chứa nhiều tình tiết, phân cảnh đưa các dữ liệu sai hoàn toàn về công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam. Và đặc biệt, sự xuyên tạc đê hèn nhất là tô vẽ lý do vì sao lính Hàn tham chiến ở Việt Nam, từ thân phận lính đánh thuê tàn bạo hô biến thành anh hung, và từ việc lính Hàn thảm sát dân thường Việt Nam lại trở thành những chiến công lừng lẫy.
Little women lấy bối cảnh dữ liệu cuộc chiến tranh diễn ra trong giai đoạn 1967-1970 khi Hoa Kỳ và lực lượng lính đánh thuê (trong đó đông nhất là lính Hàn Quốc) đã thực hiện cuộc chiến tàn sát thảm khốc và man rợ người Việt Nam, sự kiện lịch sử được “làm quá”, “làm vống” trong phim thay vì mô tả sự độc ác của cuộc chiến khốc liệt phi nghĩa của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh, leo thang bắn phá miền Bắc, phá hoại miền Nam thì lại coi những người lính đánh thuê Đại Hàn Dân quốc như những anh hùng lịch sử.
Thậm chí, có phân cảnh nhân vật tên Won Ki Seon - một cựu chiến binh Hàn từng tham gia chiến đấu tại Việt Nam, đã nhận xét: “Mỗi lính Hàn Quốc có thể giết 20 lính Việt Cộng” hay “Lính Hàn Quốc là những anh hùng của chiến tranh Việt Nam” - và lấy đây làm niềm tự hào.
Đây không phải đơn thuần là nói dối, đó là sự trơ trẽn. Cứ thử nghĩ nếu như Nhật Bản cũng làm phim, nói rằng việc lính Nhật thảm sát dân Triều Tiên, cưỡng hiếp phụ nữ Triều Tiên đó là “khai hoá văn minh”, lính Nhật là những anh hùng – lúc đó không biết Hàn Quốc nghĩ gì.
Nói gì thì nói, Hàn Quốc không phải là Triều Tiên mà chỉ là 1 nửa của Triều Tiên được tách ra, là thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Hiện tại Hàn Quốc thực sự không phải là quốc gia thực sự có “độc lập – tự do”.
Giờ đây miền Nam trở thành Hàn Quốc, tổng thống xứ củ sâm kiểu như tay sai của Tổng thống Mỹ, chỉ huy tối cao của quân đội Hàn Quốc lại là tướng 4 sao của người Mẽo, Hàn Quốc là chư hầu của xứ Huê Cầy, dân Hàn Quốc trở thành công dân hạng 2 ngay trên đất nước của mình!
Hay như cách đây 2 năm, 02/03/2020 - khi CHDCND Triều Tiên tập trận và thử tên lửa, Nhà Xanh (văn phòng Tổng thống Hàn Quốc) đã kịch liệt lên án và chỉ trích Bình Nhưỡng.
Kim Yo-jong, em gái của Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un đã lập tức tuyên bố Hàn Quốc, với tư cách là một kẻ tay sai không có tư cách chỉ trích Triều Tiên khi chính họ đã tiến hành các cuộc tập trận riêng hay chung với ông chủ Mỹ. Cô cho rằng việc Seoul lên án Bình Nhưỡng là một hành động thực sự vô nghĩa” và ngu ngốc.
“Những phát ngôn và hành động không nhất quán của Nhà Xanh chỉ làm tăng thêm sự ngờ vực, thù hận và khinh miệt của chúng tôi với Hàn Quốc. Thật giống với cái cách con chó sủa trong sợ hãi.”
Bị chửi thẳng mặt là con chó, ấy vậy mà vẫn phải cúp đuôi xin ý kiến chỉ đạo từ ông chủ Mỹ, thật là đau đớn cho người Hàn thượng đẳng!

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2022

XUYÊN TẠC CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG Ở VIỆT NAM - ĐIỀU VÔ LÝ, KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN

 Một thực tế không thể phủ nhận đó là kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng (XD,CĐĐ) đạt được trong thời gian qua không những được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ghi nhận, đánh giá cao mà còn khẳng định XD, CĐĐ là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược để Đảng ta có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, các thế lực thù địch phớt lờ điều ấy, chúng còn ra sức công kích vấn đề có tính nguyên tắc và chiến lược này.

1. Với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Là một công việc bình thường trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vậy mà mỗi khi Đảng ta kỷ luật một số cán bộ cao cấp trong bộ máy Đảng, Nhà nước có vi phạm, trên một số đài, báo nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFA, RFI, VOA... và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân luôn xuyên tạc rằng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam là “thanh trừng phe phái” hay “tính hiệu quả không thể cao khi người dân đứng ngoài cuộc chiến chống suy thoái”, cho rằng việc xử lý cán bộ vi phạm để “tăng cường quyền lực cho khối nội chính, tuyệt đối hóa quyền lực của Đảng”, v.v.. Thực ra, những nhận định này là hồ đồ và xuyên tạc vì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục của Đảng để “cơ thể Đảng” thường xuyên khỏe mạnh, có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch.

Từ lý luận và thực tiễn đều chứng minh một vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược, đó là Đảng phải thường xuyên được xây dựng, chỉnh đốn để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức và xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước, dân tộc. Trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, công tác XD, CĐĐ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ngày càng cấp thiết, bởi lẽ, đất nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới. Điều đó càng đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới, vươn tầm trí tuệ, Đảng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Do vậy, không thể có chuyện việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta là “giật gấu vá vai” như ai đó đã từng rao giảng. Thực tiễn đã chứng minh, càng làm tốt công tác XD, CĐĐ bao nhiêu thì Đảng ta ngày càng vững mạnh bấy nhiêu, luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

2. Vì sao xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc? Điều này được xác định ngay từ khi Đảng ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một tất yếu khách quan, gắn chặt với quá trình phát triển, trưởng thành của sự nghiệp cách mạng; Đảng là một tổ chức sống trong lòng xã hội, một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội. Tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ trong Đảng, Nhà nước luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng từ môi trường xã hội cả những cái tốt, tích cực, tiến bộ, cả những cái xấu, tiêu cực và lạc hậu.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng phải quan tâm nhiều hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, nếu không làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì “... một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(1). Do vậy, đối với những cán bộ, đảng viên nắm giữ quyền lực càng phải đề cao ý thức, trách nhiệm trong XD, CĐĐ. Nó không chỉ góp phần làm cho Đảng ta mạnh lên mà còn là nhu cầu tự hoàn thiện, tự làm trong sạch và khẳng định nhân cách của mình. Bởi lẽ, nếu không biết sử dụng đúng quyền lực và đặt nó vào đúng vị trí thì nó sẽ phá hoại ghê gớm, nhất là khi người nắm giữ quyền lực bị tha hóa, biến chất, họ sẽ biến quyền lực của Đảng, của nhân dân thành đặc quyền, đặc lợi, rơi vào chủ nghĩa cá nhân.

XD, CĐĐ là vấn đề có tính quy luật trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, đặc biệt là trước những biến cố, bước ngoặt quan trọng của cách mạng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng có mối quan hệ biện chứng, trong đó xây dựng là nền tảng, có tác dụng to lớn để thực hiện chỉnh đốn Đảng. Ai đó cho rằng chỉ cần xây dựng Đảng là đủ mà coi thường chỉnh đốn Đảng là điều phi lý, không thể chấp nhận; bởi chỉnh đốn Đảng là một mặt hết sức quan trọng và là điều kiện không thể thiếu của xây dựng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng gắn bó chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau, ràng buộc và quy định lẫn nhau, xây dựng Đảng ngay trong nội dung chỉnh đốn và chỉnh đốn là thành tố nội tại để xây dựng Đảng tốt hơn. Do vậy, không thể coi trọng, nhấn mạnh mặt này, xem nhẹ, coi thường mặt kia; hai mặt xây dựng và chỉnh đốn có quan hệ chặt chẽ, là vấn đề có tính quy luật của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Nguyên tắc của XD, CĐĐ là lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách để Đảng không rơi vào độc đoán, chuyên quyền. Đồng thời trong sinh hoạt Đảng, phải thực hiện đúng đắn nguyên tắc tự phê bình và phê bình, bởi đó là thứ vũ khí, là quy luật làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Cùng với đó cần thực hiện tốt kỷ luật nghiêm minh và tự giác, làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát để giữ gìn sự đoàn kết và sự trong sạch của Đảng. Sự thật này không thể xuyên tạc, chân lý này không thể bẻ cong.

3. Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đã được triển khai sâu rộng, thực hiện quyết liệt và đạt những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, càng đi sâu vào quá trình đổi mới, nhiều vấn đề về công tác XD, CĐĐ càng được đặt ra cấp bách cần phải giải quyết, nhất là khi: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”(2). Sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường XD, CĐĐ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta đã bác bỏ mọi cách nhìn lệch lạc, quan điểm sai trái về công tác XD, CĐĐ. Thực tế chứng minh rằng, kết quả thực hiện nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Trung ương 4 khóa XII đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác XD, CĐĐ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về công tác XD, CĐĐ được nâng lên. Qua thực hiện các nghị quyết về XD, CĐĐ đã có nhiều tấm gương điển hình tiên tiến được nhân rộng, lan tỏa trong đời sống xã hội, đồng thời xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và xã hội, có tác dụng cảnh báo, răn đe, phòng ngừa chung. Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái cho rằng Đảng ta không thể XD, CĐĐ thành công.

Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quyết tâm XD, CĐĐ trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 về đẩy mạnh XD, CĐĐ và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo đó, “XD, CĐĐ phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị, phạm vi thực hiện không chỉ đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên mà còn cả các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức, viên chức, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và thành viên, đoàn viên, hội viên của các tổ chức này”(3). Đây là những nội dung thể hiện sự phát triển và mở rộng của công tác XD, CĐĐ để đáp ứng với điều kiện mới của Đảng ta, là minh chứng bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Theo báo cáo của cơ quan chức năng, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và 87.000 đảng viên. Chỉ tính trong năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII, năm 2021, cả nước đã khởi tố, điều tra 390 vụ án với 1.011 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, trong đó đã khởi tố mới nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Như vậy, những ai hiểu biết ở mức bình thường nhất cũng phải thừa nhận rằng, việc xử lý cán bộ nêu trên thể hiện sự nghiêm minh của Đảng, Nhà nước, kiên quyết xử lý đúng người, đúng tội, không có chuyện sử dụng danh nghĩa chống suy thoái để “thanh trừng phe phái” như ai đó đã xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất quyết liệt, là “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật vài người để cứu muôn người”.

Những thành quả đã đạt được trong công tác XD, CĐĐ thời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vững tin xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh.

Đại tá, TS VŨ PHÚ DŨNG (Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam)

----------------

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15, NXB CTQGST, Hà Nội, 2011, tr.672

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, NXB CTQGST, Hà Nội, 2011, tr.22

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, NXB CTQGST, Hà Nội, 2021, tr.88