Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2023

Nguyễn Đình Cống lý giải nguyên nhân tham nhũng - Một thủ đoạn mới cần cảnh giác

 Ngày 04/12/2023, Nguyễn Đình Cống có bài: “Tại sao Đảng che giấu nguyên nhân cơ bản của tham nhũng”, đăng trên trang Bauxite Việt Nam. Xoay quanh việc lý giải về nguyên nhân cơ bản của tham nhũng và trả lời câu hỏi: Tại sao Đảng che giấu nguyên nhân cơ bản của tham nhũng ? 

Nguyễn Đình Cống đã ngang nhiên công khai đưa ra những quan điểm sai trái, xuyên tạc, phản động, chống đối Đảng, Nhà nước, cố tình xuyên tạc sự thật, phủ nhận kết quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Nguyễn Đình Cống không đồng ý với một số người đưa ra kết luận rằng “Nguyên nhân cơ bản của nạn tham nhũng là sự tự diễn biến, tự chuyển hóa làm suy thoái tư tưởng chính trị dẫn đến thoái hóa đạo đức, lối sống của một số cán bộ các cấp các ngành”. Phân tích kết luận trên, với nhận thức lệch lạc và giọng điệu của một kẻ “trở cờ” có học, Ông cho rằng “ từ tự diễn biến về tư tưởng chính trị sẽ chuyển thành thoái hóa đạo đức là một sự vu cáo. Đại diện cho những người tự diễn biến như Trần Độ, Đặng Kim Giang, Nguyễn Trọng Vĩnh, Trần Xuân Bách, Chu Hảo, Hà Sĩ Phu, Nguyên Ngọc, … đã bị Đảng lên án hoặc trừng phạt. Họ là người có đạo đức trong sáng, là những người yêu nước chân chính. Trộn tên của họ cùng với tên những ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên BCH Trung ương mà tham nhũng, đòi hối lộ là một thủ đoạn, là ngụy biện kiểu “vàng thau lẫn lộn”, nếu không phải đê hèn thì cũng chứng tỏ có trí tuệ quá thấp kém”. Từ phân tích như vậy, Nguyễn Đình Cống cho rằng “phải bỏ “tự chuyển biến, tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị ra khỏi định nghĩa và chỉ giữ lại: Nguyên nhân của nạn tham nhũng là sự thoái hóa đạo đức, lối sống của một số cán bộ các cấp các ngành”. Nguyễn Đình Cống còn đưa ra quan điểm sai trái, ngụy biện: “Suy thoái về tư tưởng chính trị chỉ là sự nhận thức lại về Chủ nghĩa Mác – Lênin (CNML) và lý tưởng cộng sản (LTCS) của một số người. Thực tế chứng tỏ rằng, sự nhận thức lại bất kỳ việc gì, thường là đúng”. Và coi việc Đảng chống suy thoái về tư tưởng chính trị là “Đảng đang ra sức chống người có nhận thức lại, kết tội họ “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Việc đó là trái lẽ tự nhiên”. Hơn nữa, Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng còn xem “chống suy thoái về tư tưởng chính trị” là trọng tâm vì Đảng cho rằng đó là tiêu cực lớn nhất và rất lo sợ điều này”.

Theo Nguyễn Đình Cống thì nguyên nhân cơ bản của tham nhũng là “lòng tham và thể chế chính trị. Lòng tham của con  người chỉ mới là một phần của nguyên nhân cơ bản tạo ra tham nhũng, tạm xem nó là nhân. Nó còn cần kết hợp với duyên là thể chế độc tài, không minh bạch. Bản chất độc tài chưa đủ để tạo ra tham nhũng mà phải là độc tài của những người kém trí tuệ và tham lam”. Điều này chỉ đúng một phần, còn thể chế chính trị là nguyên nhân của tham nhũng thì hoàn toàn không đúng. Đã có rất nhiều ý kiến về vấn đề này. Từ lịch sử xã hội loài người, thế giới đã có nhận thức chung: Tham nhũng là con đẻ của quyền lực, ở đâu có quyền lực thì ở đó tất yếu tiềm ẩn và sẽ có tham nhũng. Tham nhũng là tệ nạn tồn tại ở mọi quốc gia và nó có trong mọi thời đại từ cổ chí kim, ở mọi chế độ xã hội. Dù là chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng vẫn thường xảy ra. Các nước phát triển có hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh, có trình độ quản lý kinh tế, xã hội cao (các nước Bắc Âu) thì tham nhũng ít; các nước nghèo, chậm phát triển, đang phát triển thì tham nhũng nhiều, nhiều nước tham nhũng nghiêm trọng. Còn ở Việt Nam nguồn gốc, nguyên nhân nảy sinh tham nhũng thì có nhiều, nhưng có thể kể ra các nguyên nhân: Việt Nam thuộc nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp; hệ thống pháp luật, cơ chế, quy chế, chế độ trên một số lĩnh vực chưa đủ, còn sơ hở, bất cập dễ bị lợi dụng để tham nhũng, tiêu cực; công tác tự kiểm tra, tự phát hiện tham nhũng trong nội bộ còn yếu; sự kiểm tra, kiểm soát, điều tra chưa duy trì thường xuyên; hiệu quả hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội và của quần chúng nhân dân còn hạn chế; một số giải pháp phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực hiệu quả chưa cao… Nhưng nguyên nhân chính, nguyên nhân trực tiếp là do một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Nguyễn Đình Cống công khai gọi thể chế chính trị ở Việt Nam là độc tài. Và ông định nghĩa “Độc tài ở Việt Nam hiện nay là chuyên chính vô sản, một thể chế độc tài toàn trị của đảng cộng sản, chưa từng có trong lịch sử trước khi có Liên Xô, là độc tài của những người vừa kém trí tuệ, vừa tham lam, bắt toàn dân phải phục tùng. Nó được dựng lên từ cách mạng và chiến tranh do Đảng lãnh đạo, được duy trì và củng cố bằng một số thủ đoạn”. Sau khi phân tích, dẫn luận vòng vo (có vẻ logic), Nguyễn Đình Cống kết luận “Nguyên nhân cơ bản của mọi tai họa mà nhân dân Việt Nam phải chịu hiện nay (trong đó có nạn tham nhũng) là sự kết hợp và cộng hưởng, một bên là những yếu kém của truyền thống dân tộc, một bên là chất độc hại trong chủ nghĩa Mác – Lê”. Cuối cùng cũng dẫn đến cái điều ông muốn là chê bai, thóa mạ truyền thống dân tộc và quay về cái đích của ông là phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, và kêu gọi “Đảng phải trừ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin”. Cái đích này không phải chỉ Nguyễn Đình Cống nhắm tới mà là cái đích chung của bọn phản động, thù địch, bọn cơ hội, “trở cờ” nhắm tới từ lâu và thực hiện bằng nhiều âm mưu thâm độc, thủ đoạn lừa bịp, gian trá. Và không phải bây giờ Nguyễn Đình Cống mới công khai tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, mới thể hiện thái độ chống đối chế độ, kêu gọi đa đảng mà ít nhất là kể từ khi ông tuyên bố bỏ Đảng (02/2016). Trả lời BBC Tiếng Việt về quyết định của mình, ông đã nói: “Tôi có nêu chủ nghĩa Marx – Lênin là không thích hợp nữa nên bỏ đi, chứ đừng có kiên trì Marx – Lênin, bỏ cái đường lối tiến lên chủ nghĩa xã hội, mà phải xây dựng một thể chế dân chủ, tam quyền phân lập, bỏ cái việc toàn trị của Đảng, bỏ quốc hữu hóa ruộng đấtNghĩa là phải thay đổi thể chế chính trị, chứ không phải để nguyên thế này”. Trong bài: “Xin trao đổi với ông Âu Dương Thệ, đăng trên Tiếng Dân, Nguyễn Đình Cống còn tuyên bố trắng trợn: “Chủ nghĩa cộng sản chỉ có thể bị đánh đổ chứ không thể cải tạo. Đây là một quy luật xã hội”. Ông còn viết: “Tôi đồng ý với Nguyên Ngọc rằng Đảng Cộng sản cơ bản là phản nước hại dân” …Nguyễn Đình Cống còn ngạo mạn tự coi mình là giáo sư, tiến sĩ tài năng và trong sạch còn lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, những người “dựng lên chế độ độc tài từ cách mạng và chiến tranh là những người vừa kém trí tuệ, vừa tham lam”. Thâm độc và cực kỳ phản động của Nguyễn Đình Cống còn thể hiện ở bình luận: “Sự kết hợp hoặc cộng hưởng một bên là những yếu kém của truyền thống dân tộc, một bên là chất độc hại trong chủ nghĩa Mác – Lê là tự nhiên, tự động, không có ai vạch kế hoạch và lãnh đạo, nó diễn ra theo kiểu “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”.

Toàn bộ bài viết của Nguyễn Đình Cống sặc mùi chống đối Đảng, chế độ. Thủ đoạn của Nguyễn Đình Cống là phủ nhận từng phần, từng vấn đề để đi đến phủ nhận thành quả cách mạng, truyền thống dân tộc, thành tựu của đất nước; phủ nhận chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Cuối cùng là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, không thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội và kêu gọi xóa bỏ Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là thủ đoạn thâm độc, hèn hạ mà Nguyễn Đình Cống và các thế lực thù địch sử dụng lâu nay.

Nguyễn Đình Cống là một trong những kỹ sư đầu tiên ở Việt Nam có trình độ về khoa học vật liệu xây dựng bê tông cốt thép, từng được đào tạo ở Liên Xô và làm chuyên gia giáo dục ở Algeria. Ông đã có nhiều đóng góp cho công tác nghiên cứu, đào tạo trong lĩnh vực xây dựng. Trước khi nghỉ hưu ông là Chủ nhiệm khoa, trường Đại học Xây dựng Hà Nội, được phong Nhà giáo nhân dân, luôn được các thế hệ sinh viên kính trọng, ngưỡng mộ. Hình ảnh của một đảng viên, một nhà khoa học, một Giáo sư đáng kính Nguyễn Đình Cống trước đây đã nhạt mờ. Nay là hình ảnh của một Nguyễn Đình Cống bất mãn chính trị, hận Đảng, hận chế độ, một kẻ vong ân, bội nghĩa; từ một kẻ tiếp tay cho các thế lực thù địch chống Đảng, Nhà nước, chống chế độ xã hội chủ nghĩa đã chuyển hóa thành một kẻ phản động, công khai chủ trương lật đổ chế độ, đòi xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn Đình Cống cuối đời đã trượt dài vào hố sâu tội lỗi mà chẳng thể chui lên.

 


Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

Bà Elaine Pearson - Nhân quyền hay Phi nhân quyền thưa bà?



Trong nỗ lực phát triển quan hệ chặt chẽ hơn, cách chính phủ dân chủ như Úc, các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ không nên bỏ mặc các tù nhân lương tâm Việt Nam. Làm như thể chỉ mời gọi chính quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp quyền tự do ngôn luận và các tiếng nói phản biện, điều mà bất kỳ bất kỳ chính phủ quốc gia nào cũng nên cho phép”.

Nhận định trên của bà Elaine Pearson, giám đốc Ban  Á châu của cái gọi là “Tổ chức Theo dõi Nhân quyền” (Human Rights Watch, viết tắt là HRW), được Việt Tân hào hứng dẫn lại vào dịp “75 năm tuyên ngôn quốc tế nhân quyền được thông qua” sắp đến (10/12/1948 – 10/12/2021).

 Dẫn lại để làm gì? Để làm cái việc “chứng minh” (!) rằng: “Việt Nam cũng hứa cam kết các quyền con người. Nhưng trong thực tế thì đó đều là những “lời hứa lèo”

Với nhận định này, thêm một lần nữa, “quan chức” của HRW là bà Elaine Pearson tự chứng tỏ mình là người ăn nói hồ đồ, tùy tiện hạng nhất.

Tùy tiện ở chỗ HRW và bà Elaine Pearson nhân danh “theo dõi nhân quyền”, nhưng lại theo dõi bằng cái nhìn…méo xệch.

Trong khi phớt lờ những nỗ lực đảm bảo nhân quyền của Việt Nam cả về chủ trương, đường lối, chính sách (như: tích cực, chủ động tham gia vào các công ước quốc tế về quyền con người của Liên hiệp quốc (LHQ); phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của LHQ về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động thế giới; xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia, trong đó Hiến pháp năm 2013 là điểm nhấn quan trọng nhất của hoạt động lập hiến về quyền con người với 36 điều quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân…), lẫn những kết quả cụ thể, thành tựu to lớn trong các lĩnh vực: kinh tế xã hội và văn hóa (đặc biệt là trong xóa đói giảm nghèo, trong bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương…, từng được được nhiều tổ chức quốc tế (như Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc về Phát triển con người toàn cầu 2021-2022; Tổ chức Cứu trợ Trẻ em; PLAN – tổ chức phi chính phủ quốc tế phát triển cộng đồng lấy trẻ em làm trung tâm, và làm việc trên 48 quốc gia…, Hội đồng nhân quyền LHQ) thừa nhận và khẳng định, thì HRW và bà Elaine Pearson chỉ chăm chăm xoáy vào cái gọi là “quyền tự do ngôn luận và các tiếng nói phản biện”.

Từ cái nhìn lệch lạch này, họ la hét bênh vực, cổ vũ một số phần tử vi phạm pháp luật, chống đối nhà nước Việt Nam; tôn vinh các phần tử đó như những “nhà nhân quyền”, “nhà dân chủ”.

Chưa hết, để tiện bề vu cáo nhà nước Việt Nam, đánh động dư luận quốc tế, HRW a dua, phụ họa với một tổ chức thiếu khách quan khác vẽ ra một thuật ngữ pháp lý không thể chấp nhận/ không thể tìm ra, có tên “tù nhân lương tâm” như một    điển hình đánh tráo khái niệm, dành cho những kẻ từng ra trước vành móng ngựa như Trần Văn Bang, Y Wô Niê, Lê Trọng Hùng…

Liên quan những đối tượng trên, thiết nghĩ, chẳng cần nói nhiều, bởi dư luận đều đã biết tường tận nhân thân, bản chất cùng những hành vi khiến họ đang “bóc lịch” trong “kho”. Tuy nhiên, để phơi bày thêm nhìn méo mó về nhân quyền cùng  sự gà mờ về thời thế của HRW và bà Elaine Pearson, xin nêu sự kiện liên quan  một bức thư ví như trò…lố của bà Elaine Pearson.

 Số là, 10 ngày trước chuyến thăm Việt Nam (10-11/9) của ông Joe Biden – tổng thống Mỹ, theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, bà Elaine Pearson, trong tư cách Giám đốc Ban  Á châu của HRW, đã gửi tới ông chủ Nhà trắng một lá thư.

Trong thư, bà Elaine Pearson không che giấu động cơ của của mình, cũng là động cơ của HRW” coi chuyến công du của ông Biden là “cơ hội quan trọng để nhắc lại và khuếch trương các quan ngại về hồ sơ đàn áp nhân quyền của chính quyền Việt Nam”. Từ động cơ đó, bà ta đã khẩn thiết đề nghị ông Biden “công khai nêu các quan ngại về nhân quyền trước và trong chuyến thăm, đồng thời kêu gọi chính quyền Việt Nam phóng thích các tù nhân chính trị và cam kết thực hiện các cải cách cần thiết…”.

Nực cười là, như một người hoang tưởng về sứ mệnh, lại thêm ảo tưởng về vị thế, bà Elaine Pearson còn làm cái việc ví như gây sức ép để ông chủ Nhà trắng phải có trách nhiệm “uốn nắn” Hà Nội hiểu ra rằng: “Thực thi các quyền con người cơ bản không thể bị coi là tội phạm, và quan hệ Việt-Mỹ sẽ không bao giờ phát huy hết tiềm năng trừ khi Việt Nam nới lỏng chính sách đàn áp và cải thiện hồ sơ về nhân quyền…”.

Nếu tin vào sức nặng lá thư, nhiều người hẳn sẽ bi quan rằng: cho dù háo hức và cập rập tới nỗi bỏ cả việc trọng ở hội nghị cấp cao Đông Á tại Indonesia (cử phó tổng thống đi thay), rút ngắn chương trình họp thượng đỉnh G20 tại Ấn Độ để thăm Việt Nam, việc nâng cấp bang giao Mỹ – Việt (mà bà Elaine Pearson hàm ý là “tiềm năng”)  cũng sẽ: hoặc trục trặc, hoặc chỉ nhích lên tý chút.

Nào ngờ, chóng vánh hơn cả dự kiến của những người lạc quan nhất, sau cuộc hội đàm ngày 10/9, hai nhà lãnh đạo hai nước đã hoàn hỷ ra Tuyên bố chung về xác lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững…

Chưa hết, cái không khí cởi mở, tin cậy cùng những lời nói tốt đẹp, thịnh tình dành cho nhau như chứng tỏ ông Biden đã quên lãng hẳn đi lá thư mà bà Elaine Pearson đại diện cho HRW đã kỳ công và kỳ vọng trong việc đòi “nhân quyền” cho Việt Nam.

Cũng có người thận trọng hơn, cho rằng: ông Biden không lẫn. Ông cũng chưa hẳn đã quên là thư. Chưa quên nhưng ông khôn lắm. Cái khôn của một nhà chính trị lão luyện cả trong lý thuyết lẫn thực hành. Khôn rằng: một khi đã “thề” tôn trọng thể chế chính trị, thì đừng có dại dột theo lời xui dại của một người đàn bà đại diện cho cái tổ chức HRW vốn đã và đang tai tiếng lâu nay vì động cơ xấu, nếu không muốn chuyến công du thu xếp kỳ công thành công cốc.  

Suy cho cùng, bà Elaine Pearson phải tự trách mình thôi.

Ai bảo dấn thân vào một công việc to tát mang tên nhân quyền, bà đã không tìm, không đọc, nhất là không nghiền ngẫm kỹ để khỏi ngộ nhận những kiến thức, những nguyên tắc cơ bản, như: tôn trọng chủ quyền quốc gia về lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại; bình đẳng chủ quyền của các quốc gia và quyền tự quyết của các dân tộc; không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác; tôn trọng quyền tự do ngôn luận nhưng với điều kiện quyền đó không ảnh hưởng tới an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội….

Tất cả những kiến thức, nguyên tắc đó đều có trong văn kiện pháp lý về quyền con người, trong đó có Hiến chương Liên hợp quốc, Bộ luật quốc tế về quyền con người, Tuyên ngôn về quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị…, thưa bà Elaine Pearson.

 

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2023

Vạch trần hành động xuyên tạc tổ chức công đoàn Việt Nam

 Lợi dụng sự kiện Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam đang diễn ra tại Hà Nội, ngày 02/12, trang facebook Việt Tân đăng bài: “Công đoàn Việt Nam: Khai mạc hoành tráng – Thực tế ăn hại”. Trong bài đăng của Việt Tân cho rằng: “hoạt động của Công đoàn Việt Nam không đại diện cho quyền lợi của người lao động mà chỉ phục vụ lợi ích của giới chủ sử dụng lao động. Lực lượng này trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, trong Mặt trận Tổ quốc,…”. Đây là hành động xuyên tạc vai trò, các hoạt động của tổ chức công đoàn cần vạch trần, lên án.



Bởi vì, theo quy định của pháp luật Việt Nam và quy chế hoạt động của tổ chức công đoàn các cấp đã xác định: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là cơ quan lãnh đạo cao nhất của các cấp Công đoàn. Thay mặt cho công nhân, viên chức, lao động tham gia quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, tham gia xây dựng pháp luật, chế độ chính sách liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của công nhân, viên chức và lao động. Bám sát thực tiễn, tổ chức thực hiện sáng tạo chủ trương của Đảng, chủ động nghiên cứu, tham mưu, kịp thời định hướng phát triển phong trào công nhân và hoạt động công đoàn. Quan tâm chăm lo lợi ích chính đáng của đoàn viên, lấy lợi ích là điểm quan trọng để tập hợp, thu hút người lao động. Thực hiện tốt vai trò đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đoàn viên công đoàn và người lao động, v.v.

          Trên thực tế, những năm qua, tổ chức công đoàn các cấp đã tập trung đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua các hoạt động cụ thể, như: tổ chức diễn đàn đối thoại chính sách giữa người đứng đầu chính quyền các cấp với người lao động, từ đó giúp chính quyền các cấp nắm tâm tư, nguyện vọng và điều chỉnh chính sách kịp thời cho người lao động; đào tạo nghề, có cơ chế hỗ trợ vốn, tài chính, chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, chính sách nhà ở,… cho công nhân. Chỉ tính riêng trong nhiệm kỳ năm 2018 - 2023, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành hơn 300 văn bản góp ý, kiến nghị, đề nghị, đề xuất về xây dựng cơ chế chính sách, pháp luât; tham gia xây dựng, hoàn thiện 15 báo cáo thực thi công ước quốc tế của Chính phủ, 02 hồ sơ đề xuất gia nhập Công ước 98, Công ước 105. Tổ chức công đoàn đã tham gia đàm phán nâng mức lương tối thiểu vùng cho người lao động thêm 25,34% so với đầu nhiệm kỳ; tham gia tố tụng, giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án cho hơn 11.900 người; thực hiện hoạt động tư vấn cho hơn 01 triệu lượt đoàn viên, người lao động; tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho hơn 2,6 triệu người; có hơn 27 triệu lượt đoàn viên, người lao động được chăm lo Tết với tổng số tiền hơn 26.000 tỉ đồng; hỗ trợ dinh dưỡng cho các lực lượng, công nhân người lao động trong thời gian chống dịch Covid-19, tặng sổ tiết kiệm công đoàn cho con đoàn viên mồ côi do Covid-19 với số tiền hỗ trợ gần 6.000 tỉ đồng, v.v. Thông qua các hoạt động trên đã góp phần hỗ trợ, động viên công nhân, người lao động gắn bó, yên tâm tham gia lao động, sản xuất.

Tuy nhiên, cũng chính từ những tác động, hậu quả do đại dịch Covid-19 để lại, nên nền kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam rơi vào suy thoái, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, sản xuất cầm chừng,… vì thế, nhiều doanh nghiệp “cực chẳng đã” phải cho công nhân, người lao động nghỉ việc. Trước tình trạng đó, tổ chức công đoàn các cấp đã làm việc với chủ các doanh nghiệp bảo đảm quyền lợi cao nhất cho công nhân, người lao động; tổ chức tư vấn, giới thiệu, tìm việc làm mới; hỗ trợ, động viên khó khăn,… nên làm giảm đáng kể các cuộc tụ tập đông người đình công, phản đối của công nhân. Những hành động, việc làm, con số cụ thể trên chính là bằng chứng xác đáng nhất cho câu hỏi của Việt Tân: “Thử hỏi, lực lượng Công đoàn này đã làm gì trước tình trạng hàng trăm nghìn công nhân bị mất việc làm, trước hàng trăm cuộc đình công của công nhân, trước những hoàn cảnh khó khăn mà người lao động đang gặp phải,…”.

Trong khi đó, thực chất âm mưu của họ là đây: “Trước mắt, Công đoàn Việt Nam cần phải thực sự độc lập khỏi sự kiểm soát của tổ chức đoàn, đảng chính quyền trước…”. Mục đích của họ là đòi tách sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, chính quyền với tổ chức công đoàn, để công đoàn trở thành tổ chức “vô chính phủ”, giúp họ dễ bề can thiệp, lôi kéo, xúi giục công nhân, người lao động biểu tình, gây ra những bất ổn về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước. Đây là âm mưu hết sức thâm độc, cần bị vạch trần, kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2023

Quyền của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam được bảo đảm

 


Lợi dụng những khó khăn khách quan của vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi, như người DTTS chủ yếu sinh sống tại các khu vực có điều kiện tự nhiên và địa hình phức tạp, thiếu các kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội (KTXH) thiết yếu, kinh tế chậm phát triển, phần lớn hoạt động sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp, nên đời sống của đồng bào DTTS còn nhiều khó khăn.

Cùng với đó là một số phong tục, tập quán lạc hậu đang tồn tại đã cản trở các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật người DTTS trong việc chủ động bảo vệ các quyền của chính mình. Bất bình đẳng giới, tư tưởng trọng nam khinh nữ, bạo lực gia đình vẫn tồn tại, nhất là ở những nơi trình độ dân trí còn thấp, không chỉ ảnh hưởng đến từng người dân trong việc thụ hưởng các quyền mà còn là thách thức đối với các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng và triển khai các chính sách nhằm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân, v.v.

Việt Nam lại là quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, nên còn nhiều khó khăn về nguồn lực trong việc bảo đảm quyền của đồng bào DTTS, như thiếu hụt các nguồn lực dành cho việc triển khai các chính sách hỗ trợ và bảo đảm quyền của người DTTS, nhất là về bảo đảm nhu cầu lương thực, mặc và chỗ ở an toàn cho người DTTS ở các khu vực có môi trường tự nhiên không thuận lợi, v.v.

Điều đó làm cho giữa đồng bào miền núi và đồng bào miền xuôi còn có sự chênh lệch về sự phát triển, những người có thâm thù với chế độ ta lợi dụng thực trạng trên cho rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam kỳ thị đồng bào DTTS. Đồng bào DTTS không được đối xử bình đẳng với người Kinh. Đó là cái nhìn sai lệch, không khách quan.

Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống lâu đời, trong đó có 53 DTTS, với hơn 14 triệu người (chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước. Các DTTS có số dân không đồng đều, có nhóm trên một triệu người như Tày, Thái, Mường, Khmer; có nhóm có dưới một nghìn người như: Si La, Pu Péo, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm. Địa bàn cư trú của các DTTS phân bố trên ¾ diện tích cả nước tại 51/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 548 huyện, 5.266 đơn vị hành chính cấp xã[1], chủ yếu ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải Miền Trung.

Với một nước đa dân tộc, Việt Nam luôn khẳng định các DTTS là bộ phận không thể tách rời quốc gia – dân tộc và luôn coi trọng việc bảo đảm quyền chính trị, kinh tế, văn hóa. Đồng thời bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng tiến bộ; các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp, đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật.

Hiến pháp năm 2013 hiến định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5),  “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”(Điều 42).

Hiến pháp năm 2013 nhấn mạnh chính sách đại đoàn kết dân tộc (Điều 9), chính sách ưu tiên phát triển giáo dục cho đồng bào DTTS (Điều 61). Các hành vi kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo… bị nghiêm cấm và bị trừng trị theo quy định của pháp luật.

Cùng với Hiến pháp, việc lập đề nghị, soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính sách phát triển KTXH đều phải tham khảo ý kiến của đối tượng bị tác động. Đối với chính sách pháp luật liên quan đến đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa nơi có nhiều đồng bào DTTS cư trú đều phải lấy ý kiến trực tiếp của họ hoặc thông qua ý kiến của tổ chức chính quyền địa phương.

Việc bảo đảm quyền bình đẳng toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị và dân sự cho tất cả các dân tộc chính là biểu hiện việc thực hiện quyền tự quyết của các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam. Phù hợp với Hiến pháp năm 2013 (các điều 16, 25, 28, 29, 31, 32, 34, 35, 41, 42), quyền bình đẳng đã được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 3 và 16); Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 (Điều 3); Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Điều 9); Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 8), Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (Điều 17), v.v.

Chính sách theo dân tộc và nhóm dân tộc nhằm giải quyết những khó khăn về KTXH của các DTTS, nhất là nhóm DTTS rất ít người, như Đề án “Phát triển KTXH vùng các dân tộc: Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao”; chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển KTXH vùng DTTS miền núi giai đoạn 2017-2020; Đề án hỗ trợ phát triển KTXH vùng DTTS rất ít người giai đoạn 2016-2025. Các chính sách này đã góp phần quan trọng giúp đồng bào tiếp cận, thụ hưởng tốt hơn các dịch vụ công (y tế, giáo dục, nước sạch vệ sinh môi trường, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa từng dân tộc).

Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 88/2019/QH19, ngày 18/11/2019, phê duyệt Đề án tổng thể phát triển KTXH vùng DTTS miền núi giai đoạn 2021-2030. Đây là quyết định quan trọng để định hướng phát triển vùng DTTS trong thời gian tới một cách toàn diện và hiệu quả nhằm nâng cao vị thế và đảm bảo quyền phát triển cho đồng bào DTTS.

Với những nỗ lực của mình, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc tạo được sự đại đoàn kết giữa các dân tộc. Thành tựu đó cũng đã bác bỏ luận điệu sai trái của những người thiếu thiện chí nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ta./.

 Phù Nghĩa

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2023

Những cái lưỡi không xương chuyên xuyên tạc, bôi nhọ lực lượng Công an

 


Lực lượng CAND luôn đóng vai trò là “thanh bảo kiếm”, là “lá chắn thép” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

 

Công an nhân dân (CAND) Việt Nam là “thanh bảo kiếm” sắc bén, “lá chắn thép” vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Với vai trò, chức năng nhiệm vụ phòng, chống các loại tội phạm, lực lượng Công an trở thành mục tiêu mà các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn hướng tới nhằm xuyên tạc, chống phá. Chúng phớt lờ những thành tích đã đạt được hoặc tìm cách phủ nhận những công lao của lực lượng CAND là các cán bộ, chiến sĩ đã không quản khó khăn, hiểm nguy, ngày đêm đấu tranh phòng, chống tội phạm đem lại sự bình an cho đất nước, đúng như tinh thần của khẩu hiệu “thức cho dân ngủ ngon, gác cho dân vui chơi, lấy niềm vui, hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống của mình”. Bao năm qua, người dân chúng ta đều hiểu rằng, đất nước ngày nay có được bình yên, an ninh chính trị được ổn định, tội phạm được kiềm chế chính là nhờ công sức của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng Công an cùng sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, sự ủng hộ của nhân dân. Thế nhưng phía sau sự bình yên, phía sau mỗi chuyên án là sự nỗ lực không ngừng nghỉ của cán bộ, chiến sĩ Công an. Được hưởng thụ thành quả của sự ổn định, yên bình nhưng không phải ai cũng có thể thấu hiểu, sẻ chia những khó khăn, gian khổ, sự hy sinh của “những bàn chân lặng lẽ”, những người tạo nên chiến công thầm lặng nhưng rất đỗi vẻ vang.

Gần đây trên trang báo mạng phản động “Quyền Được Biết” cho đăng tải bài viết: “Những hành vi phạm tội của tên mật vụ Tô Lâm” của một kẻ giấu tên nhằm công kích, bôi nhọ lực lượng CAND và người đứng đầu là Bộ trưởng Tô Lâm. Kẻ này lu loa rằng: “Để trả thù những kẻ nhạo báng mình y đã bắt giữ Bùi Tuấn Lâm, một thanh niên bán quán ăn ven đường có hành vi nhái động tác của thánh rắc hành mà y cùng đồng bọn đã từng ăn. Dưới thời Tô Lâm, các nhà tranh đấu bị bắt tại VN rất nhiều, cá biệt có những nhà bảo vệ môi trường cũng bị bắt với tội danh mơ hồ là ‘trốn thuế’ như bà Ngụy Thị Khanh…; hoặc ngăn cản công dân xuất cảnh như trường hợp của cựu LS xã nghĩa Võ An Đôn. Đó là tội danh vu khống, chụp mũ, phi dân chủ và phản nhân quyền. Mới nhất là hành vi bắt giữ Ông Lưu Bình Nhưỡng (LBN),một thành viên quốc hội csVN…”. Thậm chí kẻ này còn tỏ rõ não trạng tâm thần nặng khi cho rằng: “có thể trong thời gian tới Tô Lâm cũng sẽ không ngại ngần thủ tiêu Nguyễn Phú Trọng và nắm giữ quyền lực tối cao trong thượng tầng chính trị csVN…”. Có lẽ cần nêu lại một vài vụ việc mà “Quyền Được Biết” cho là Bộ trưởng Tô Lâm và lực lượng CAND “trả thù”, “bắt với tội danh mơ hồ”, “chụp mũ, phi dân chủ và nhân quyền” có phải như vậy không?

 

Lực lượng CAND Việt Nam phát huy truyền thống vẻ vang, anh hùng

 

Trước hết hãy nói về Bùi Tuấn Lâm. Có lẽ người dân không mấy xa lạ khi nhắc tới biệt danh “thánh rắc hành”. Biệt danh này gắn với tài khoản mạng xã hội mang tên Peter Lâm Bùi, tức Bùi Tuấn Lâm. Với những thông tin đầy rẫy sự tiêu cực cá nhân, xuyên tạc, tuyên truyền chống phá chế độ, tài khoản Peter Lâm Bùi đã từng một thời làm khuynh đảo cõi mạng.

Bùi Tuấn Lâm ngày càng ngông cuồng hơn khi được sự theo dõi của đông đảo giới chống cộng ở hải ngoại và nhiều thành phần bất hảo trong nước. Hắn tự biến mình thành công cụ để phục vụ hoạt động chống phá Nhà nước. Nhận được sự tâng bốc, giật dây của những kẻ phản động, Bùi Tuấn Lâm cố tình thể hiện đủ mọi chiêu trò như: Đăng ảnh mặc quần áo ngụy quân để tham gia các hoạt động biểu tình chống phá; chụp hình tự sướng với những biểu ngữ thách thức để đánh bóng tên tuổi, gây tiếng vang, sử dụng chiêu trò để thu hút dư luận. Mục đích của hắn hòng tìm kiếm sự đầu tư từ các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân. Ngoài ra, Bùi Tuấn Lâm còn tranh thủ học mót vài chiêu bài để nổi danh từ kẻ khoác áo “nhà dân chủ” đàn anh là Nguyễn Lân Thắng. Ngoài ra Lâm còn thường xuyên cộng tác với các báo, đài phản động thiếu thiện chí với Việt Nam, thậm chí ngông cuồng tự cho phép mình quyền xúc phạm, bôi nhọ người khác. Đó là những cách mà các nhà dân chủ hư danh thường sử dụng để tạo sự quan tâm, chú ý; để được tung hô, rồi lại ảo tưởng mình là vĩ nhân; để huênh hoang lên tiếng cho cái gọi là sự nghiệp đấu tranh dân chủ, nhân quyền. Như vậy, Bùi Tuấn Lâm bị bắt, kết án vì hành vi phạm tội của mình là không hề oan sai. Tuy nhiên, sau khi bị bắt và kết án, hàng loạt đài, báo hải ngoại và một số tổ chức theo dõi nhân quyền lại được dịp khóc mướn. Chúng đồng loạt cho rằng Bùi Tuấn Lâm bị trù dập, bắt oan người vô tội. Việt Nam muốn phát triển được thì phải bãi bỏ Điều 117 trong Bộ luật Hình sự… Thậm chí, chúng còn lộng ngôn đòi bắt giam ông Tô Lâm (Bộ trưởng Bộ Công an). Thực tế từ trước đến này, hoạt động chống đối chính quyền được các đối tượng chống phá tạo ra từ việc lợi dụng những vấn đề nhạy cảm trong đời sống để tô vẽ, thổi phồng, tạo ra sự đối lập, đẩy mâu thuẫn lên cao, châm ngòi cho bạo loạn. Từ những phát ngôn, bình luận của một số kẻ bất mãn với chế độ nhanh chóng được quy chụp để gây hoài nghi trong dư luận. Ngay cả những thông tin, hình ảnh của lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng được các đối tượng đem ra cắt ghép, chèn theo hàng loạt bình luận tiêu cực nhằm gây nhiễu loạn, hoang mang trong nhân dân. Đó là những yêu cầu căn bản trong hoạt động khủng bố, phá hoại của các tổ chức phản động lưu vong. Và để thực hiện được sự phá hoại nêu trên thì chúng rất cần các con rối chính trị trong nước. Những kẻ như Bùi Tuấn Lâm mang theo ảo tưởng xây dựng một xã hội dân sự, được đưa ra nước ngoài sống sung sướng vì lợi ích cá nhân, bất chấp tất cả để phá hoại sự ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước. Vì vậy việc xử lý Bùi Tuấn Lâm mà “Quyền Được Biết” gọi là “trả thù” đó chính là sự quy chụp hết sức trơ trẽn.

 

Thứ hai, “nhà bảo vệ môi trường cũng bị bắt với tội danh mơ hồ là ‘trốn thuế’ như bà Ngụy Thị Khanh” thực tế thế nào? Ngày 9/2/2022, Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt giam đối với Ngụy Thị Khanh, 46 tuổi trú tại Nam Từ Liêm, Hà Nội về tội “Trốn thuế” được quy định tại Điều 200 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.


Đối tượng Ngụy Thị Khanh trước tòa

 

Ngụy Thị Khanh là Giám đốc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh Green ID, được biết đến là một tổ chức khoa học và công nghệ được thành lập vào năm 2011 với đường hướng hoạt động là để nghiên cứu, cung cấp các giải pháp năng lượng bền vững cho cộng đồng; tham gia tư vấn, góp ý về các lĩnh vực quy hoạch năng lượng, năng lượng tái tạo, biến đổi khí hậu, giảm sử dụng năng lượng hóa thạch hay cung cấp nước sạch và điển hình trong số đó là tư vấn cho việc cắt giảm năng lượng điện than và tăng cường năng lượng điện gió, điện mặt trời ở Việt Nam thời gian qua. Việc một số cá nhân đứng đầu một trung tâm mang tính chất là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, mang hình hài của một dạng xã hội dân sự bị khởi tố và kết án về hành vi trốn thuế như Ngụy Thị Khanh vốn dĩ là rất bình thường trong bối cảnh số lượng các công ty mang danh phi lợi nhuận, có vốn đầu tư từ nước ngoài không ngừng tăng lên, nhất là đối với lĩnh vực an ninh năng lượng mà Ngụy Thị Khanh đã lập ra khoảng hơn 10 năm qua.

 

Thứ ba, việc bắt tạm giam và khởi tố vụ án đối với ông Lưu Bình Nhưỡng gần đây báo chí đã đưa tin đầy đủ, vấn đề là hãy chờ đợi kết quả điều tra của các cơ quan chức năng.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình đọc lệnh khởi tố, bắt tạm giam ông Lưu Bình Nhưỡng.

 

Ngày 22/11/2023 Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Văn Yên nêu rõ vụ án này đang được các cơ quan chức năng của tỉnh Thái Bình trực tiếp thụ lý giải quyết và “chưa thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo“. Ông Yên nhấn mạnh các cơ quan chức năng đang thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và theo đúng thẩm quyền. Ông cũng chỉ rõ thông qua sự việc này cần thấy rõ đối với ông Lưu Bình Nhưỡng là người có nhiều ý kiến ở các diễn đàn khác nhau. Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định rất chặt chẽ, không một cơ quan nào có thể tự thực hiện. Toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra được viện kiểm sát cùng cấp kiểm soát trực tiếp, toàn diện và chịu trách nhiệm về việc phê chuẩn. Hãy thôi đi cái trò tạo ra những “thuyết âm mưu” nhằm nhiếu loạn thông tin qua đó bôi nhọ, công kích chế độ.

 

Cuối cùng muốn nói rằng, âm mưu bôi nhọ, hạ thấp uy tín lực lượng CAND và người đứng đầu ngành của các thế lực thù địch, các con buôn chính trị khoác áo dân chủ nhân quyền sẽ còn diễn ra lâu dài, với nhiều chiêu trò, nhiều luận điệu, thủ đoạn mới. Tuy nhiên với truyền thống, bản lĩnh, trí tuệ, sự nhạy bén, chúng ta tin tưởng rằng lực lượng CAND vẫn luôn là “lá chắn”, là “thanh vào kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta./.

Lê Dũng