Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

Việt Nam luôn kiên định, nhất quán trong đường lối đối ngoại

 Trước chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden, một số tổ chức, cá nhân phản động, đài báo nước ngoài đã phát tán nhiều tài liệu, bình luận xuyên tạc về đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Đơn cử như: ngày 28/8, đối tượng Nguyễn Văn Đài đăng tải nội dung bình luận, cho rằng Việt Nam muốn nâng cấp quan hệ ngoại giao là để “cứu Đảng chứ không phải cứu dân, cứu nước”; kêu gọi cần cứng rắn trong đàm phán về nhân quyền, v.v. Đây là hành động xuyên tạc tình hình nội bộ Việt Nam, kích động, chia rẽ mối quan hệ của Việt Nam và các nước trên thế giới, cần đấu tranh, bác bỏ.

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden (Ảnh: AP)

Trước hết, cần khẳng định rõ: ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích gì khác. Tất cả hoạt động của Đảng đều vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Trên lĩnh vực đối ngoại, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn kiên định, nhất quán với đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Điều này được khẳng định trong văn kiện các kỳ đại hội toàn quốc của Đảng, được đánh dấu từ Đại hội VI (tháng 12/1986) đến Đại hội XIII của Đảng (tháng 01/2021). Qua mỗi kỳ đại hội, quan điểm đường lối đối ngoại của Đảng ta tiếp tục được bổ sung, phát triển, hoàn thiện hơn, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với xu thế phát triển của tình hình khu vực và thế giới.

Thứ hai, với việc kiên trì, nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, đất nước ta đã từng bước phá thế bao vây, cấm vận, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển, đảo với các nước có liên quan; mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa; tham gia sâu, rộng vào các tổ chức quốc tế. Sau 37 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa to lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, văn hóa - xã hội có bước phát triển mới, quốc phòng, an ninh được tăng cường; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 nước, vùng lãnh thổ trên thế giới (có cả 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc); trong đó, có 33 nước là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; 04 nước là đối tác chiến lược toàn diện. Đồng thời, Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế lớn, như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), v.v.

Thứ ba, để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục kiên định, nhất quán với đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Do vậy, việc mở rộng, nâng cấp quan hệ ngoại giao trở thành đối tác chiến lược toàn diện với các nước lớn trên thế giới là hoàn toàn bình thường, phù hợp với xu thế của thời đại.

Chính vì thế, việc Nguyễn Văn Đài cho rằng Việt Nam muốn nâng cấp quan hệ ngoại giao là để “cứu Đảng chứ không phải cứu dân, cứu nước” là hoàn toàn phi lý, lộ rõ dã tâm xấu độc của kẻ có thâm thù với chế độ đang phải sống tha phương cầu thực mà thôi./.

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

Thấy gì qua “lá thư chung của các tổ chức NGO gửi Tổng thống Hoa Kỳ trước chuyến thăm Việt Nam”

 


Lợi dụng sự kiện Tổng thống Hoa Kỳ Joseph R. Biden sẽ đến thăm Việt Nam vào ngày 10 tháng 9, một số tổ chức NGO đã viết thư chung gửi Tổng thống để “bày tỏ mối quan ngại sâu sắc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam” và kiến nghị với Tổng thống Biden 4 điều hãy làm trong chuyến thăm này.

Về “mối quan ngại sâu sắc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam” mà các tổ chức NGO nêu ra: “Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã lợi dụng các điều luật để bỏ tù những người bất đồng chính kiến và hạn chế đáng kể quyền tự do báo chí, cũng như quyền tự do ngôn luận và quyền thông tin. Điều 117 và Điều 331 của Bộ Luật Hình sự Việt Nam đã được sử dụng rộng rãi để bắt giữ bất cứ ai dám công khai chỉ trích các hành động chính trị của chế độ. Trong hai năm qua, ngay cả những người không chỉ trích chính phủ cũng đã trở thành nạn nhân của sự đàn áp khi bị kết án một cách oan sai tội trốn thuế…”; “Luật an ninh mạng năm 2019 đã cung cấp cho Bộ Công an quyền hạn rộng lớn để kiểm duyệt thông tin trực tuyến. Nghị định 53 và 70 yêu cầu các công ty internet phải xóa bỏ nội dung bị coi là bất hợp pháp theo Luật an ninh mạng”; “Việt Nam  đã tăng cường đàn áp các nhà báo và những người bảo vệ tự do báo chí trong những năm gần đây”; “Chính quyền Việt Nam không chỉ thực hiện các hành vi đàn áp ở Việt Nam và trên internet; bây giờ họ còn tiến hành đàn áp xuyên quốc gia …”. Rõ ràng những “quan ngại sâu sắc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam” mà các NGO “bày tỏ” với Tổng thống Hoa Kỳ chẳng có gì mới, chỉ là sự lặp lại những luận điệu xưa cũ đánh giá phiến diện, một chiều về nhân quyền Việt Nam, nhiều vấn đề mang tính quy kết với những nội dung không trung thực, không có sự khảo sát thực tiễn để đánh giá một cách khách quan, từ đó xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong bao nhiêu năm qua của các tổ chức không thân thiện với Việt Nam. Chúng cho rằng luật pháp của Việt Nam còn nhiều quy định trái với quy định của luật pháp và tập quán quốc tế. Do đó, yêu cầu Việt Nam cải cách hệ thống pháp luật, chẳng hạn như sửa đổi Điều 117 và Điều 331 Bộ Luật Hình sự; Nghị định 53, Nghị định 70; Luật An ninh mạng … Tố cáo Việt Nam vi phạm các quyền dân sự, chính trị và các quyền tự do cá nhân, trong đó có việc hạn chế và đàn áp quyền tự do ngôn luận, tự do chính kiến; lên án Việt Nam bắt giam và xét xử không theo chuẩn mực quốc tế những nhân vật “bất đồng chính kiến” những người “đấu tranh cho cho dân chủ và nhân quyền” các “nhà hoạt động môi trường” và đòi Việt Nam thả hoặc giảm án cho những nhân vật này; Vu cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do báo chí với việc tăng cường kiểm duyệt báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng, hạn chế kiểm soát việc tiếp cận và sử dụng internet, nhất là các trang Web có nội dung chính trị … Luận điệu “Việt Nam đã lợi dụng các điều luật để bỏ tù những người bất đồng chính kiến” là sự vu khống trắng trợn. Người bất đồng chính kiến là người có những ý kiến khác, thậm chí trái với chủ trương, chính sách cụ thể của Đảng và Nhà nước. Nhưng những ý kiến này mang tính chất phản biện với mục đích, động cơ đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước để nhằm xây dựng, sửa đổi chính sách và làm tốt hơn vai trò lãnh đạo, quản lý đất nước. Xin khẳng định rằng ở Việt Nam, chính quyền không bắt giữ, xét xử, buộc tội những người như vậy. Vì quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của công dân Việt Nam, được Hiến pháp, pháp luật Việt Nam ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ, được thực thi bình thường trong cuộc sống. Hiến pháp 2013, tại Điều 2, Chương II đã ghi: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Nên mọi người dân đều có quyền bày tỏ ý kiến, trong đó có những người có ý kiến khác, thậm chí trái với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước là việc bình thường.

Những nhân vật mà các NGO nêu ra trong thư như: Định Thị Thu Thủy, Đặng Đình Mạnh, Nguyễn Văn Miếng, Đào Kim Lân, Phạm Thị Đoan Trang … là những đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam, những kẻ cơ hội chính trị, cực đoan, bất mãn, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất, thường xuyên hoạt động chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bí mật hoặc công khai cộng tác với những phần tử bất mãn khác hoặc cấu kết với các thế lực thù địch bên ngoài để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam nên bị luật pháp trừng trị. Còn những Đặng Đình Bách, Mai Phan Lợi, Hoàng Thị Minh Hồng, Ngụy Thị Khanh đều phạm tội trốn thuế đã được điều tra, truy tố và xét xử theo đúng quy định pháp luật, với các tài liệu, chứng cứ kết tội rõ ràng, khách quan (bà Ngụy Thị Khanh phạm tội trốn thuế với số tiền 456 triệu đồng; Mai Phan Lợi, Bạch Hùng Dương trốn thuế gần 2 tỷ đồng và Đặng Đình Bách là 1,38 tỷ đồng…). Các thông tin mà các NGO cung cấp cho Tổng thống Hoa Kỳ là những  thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền, tự do báo chí … ở Việt Nam.

Lợi dụng ưu thế trong các cơ chế đa phương, Mỹ và các nước phương Tây tìm cách sử dụng các cơ chế này để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước đang phát triển dưới vỏ bọc “can thiệp nhân đạo” hoặc để thực hiện học thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. EU cũng luôn tuyên bố: “vấn đề dân chủ, nhân quyền sẽ được đưa vào tất cả các cuộc thảo luận giữa EU và các nước khác, ở tất cả các cấp độ … là điều khoản bắt buộc trong các hiệp định song phương giữa các nước EU với các nước khác.”. Do vậy, vấn đề dân chủ, nhân quyền thường xuyên là chủ đề đưa đến đấu tranh gay gắt và nóng bỏng tại các diễn đàn quốc tế và trong các quan hệ giữa các nước trên thế giới. Các NGO hiểu rất rõ điều này và tận dụng chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa kỳ lần này để đề nghị Tổng thống Hoa Kỳ sử dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền như một công cụ để gây sức ép, áp đặt điều kiện đối với việc phát triển trong quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.  Trong thư các NGO đề nghị Tổng thống 4 điểm, nội dung tóm tắt như sau: “Áp lực các nhà lãnh đạo Việt Nam chấm dứt hành vi đàn áp chính trị đối với tất cả những cá nhân chỉ vì họ thực hiện quyền tự do ngôn luận; sửa đổi các điều luật mang tính chất đàn áp, bao gồm các điều 117 và 331 của Bộ luật Hình sự và Luật An ninh mạng; chấm dứt hành vi đàn áp xuyên quốc gia và trả tự do cho tất cả tù nhân của lương tâm”; “Gây áp lực buộc chế độ Việt Nam bắt đầu tôn trọng quyền tự do báo chí và quyền thông tin … Kêu gọi chế độ thả tự do cho tất cả 41 nhà báo bị giam giữ chỉ vì họ làm công việc đưa tin và ngừng bắt cóc, bắt giữ, ngược đãi, lục soát và quấy rối các nhà báo và những người bảo vệ tự do báo chí”; “Giải quyết các vụ điều tra tùy tiện các nhà hoạt động, những người bảo vệ nhân quyền và các nhà báo …”; “Gặp gỡ gia đình các tù nhân chính trị để nghe những lời trần tình của họ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam”. Tổng thống Hoa Kỳ có tin những người bị bắt giữ là những người “chỉ vì họ thực hiện quyền tự do ngôn luận, những nhà báo bị giam giữ chỉ vì họ làm công việc đưa tin …” như các NGO viết trong thư, để rồi gây áp lực các nhà lãnh đạo Việt Nam thì phải chờ những gì diễn ra trong chuyến thăm của Tổng thống. Còn việc gây áp lực buộc Việt Nam sửa đổi các điều 117 và 331 của Bộ luật Hình sự và Luật An ninh mạng thì các NGO đừng có mơ. Vì việc sửa đổi, bổ sung luật pháp Việt Nam chỉ thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp Việt Nam. Không một quốc gia, một thế lực nào có thể can thiệp.

Vấn đề dân chủ, nhân quyền là một vấn đề lớn, không một quốc gia nào dám tự coi là đã thực hiện một cách hoàn hảo. Mỗi quốc gia thực hiện dân chủ, nhân quyền còn tùy thuộc vào tình hình chính trị – xã hội, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán và trình độ dân chí… Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định rõ, bảo đảm quyền con người là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, đồng thời là động lực của chế độ. Vì thế, Nhà nước Việt Nam đẩy mạnh và coi trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người; củng cố tăng cường các thể chế, chính sách của Nhà nước nhằm thúc đẩy thực thi quyền con người, bảo đảm thực hiện đầy đủ hơn, tốt hơn các quyền tự do chính đáng của nhân dân.

 


Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2023

USCIRF lại giở chiêu trò “Chọc gậy bánh xe”!

 



Minh Quân

Theo thông báo của Bộ Ngoại giao hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ, theo lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Hoa Kỳ – J. Biden sẽ dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang thăm chính thức Việt Nam vào hai ngày 10 – 11/9/2023 nhằm tăng cường mối quan hệ giữa hai nước.

Nhân sự kiện này, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) lại cáo cho rằng Việt Nam “ đàn áp đối với xã hội dân sự, áp lực gia tăng đối với các cộng đồng tôn giáo độc lập, cưỡng bức từ bỏ đức tin và các vi phạm tự do tôn giáo ngày càng gia tăng khác” và kết luận rằng Việt Nam “vi phạm các cam kết đảm bảo quyền tự do tôn giáo”(!). Đây là một luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ hình ảnh nền dân chủ của nước Việt Nam yêu chuộng hoà bình, phát triển ổn định, có nhiều đóng góp cho sự phát triển ở khu vực và thế giới!

Thực tế cho thấy, ở Việt Nam, tự do là “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”; hoạt động của các tổ chức, cá nhân đều phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật, trong đó có các hoạt động tôn giáo. Nếu tổ chức, cá nhân nào hoạt động vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý đích đáng theo quy đinh của pháp luật. Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2013, quy định:

“- Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

– Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

– Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Cụ thế hoá Hiến pháp 2013, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật tín ngường, tôn giáo. Điều 6 của Luật này quy định như sau:

– Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

– Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo.

– Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

– Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác.

– Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo”.

Luật pháp rõ ràng, nên đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được đảm bảo ngày càng tốt hơn. Mặc dù là một quốc gia đa tôn giáo, gồm cả những tôn giáo nội sinh và các tôn giáo du nhập từ bên ngoài nhưng các tổ chức tôn giáo, các tín đồ đều sống “tốt đời, đẹp đạo”, nêu cao tinh thần yêu nước, hoạt động theo quy định của Hiến pháp, pháp luật, cùng thực hành đoàn kết Lương – Giáo, đồng hành cùng dân tộc, xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, tự do, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh. Cùng với đó, Nhà nước Việt Nam luôn tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo trong việc đăng ký sinh hoạt, thành lập cơ sở đào tạo tín đồ, in ấn, phát hành kinh sách, đồ dùng việc đạo hay trong giao lưu, hợp tác quốc tế.

Ngày nay, ở khắp mọi miền của đất nước Việt Nam, đặc biệt là tại các thành phố, các trung tâm tôn giáo lớn, như: Hà Nội, Thừa Thiên – Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Tây Ninh, Cần Thơ,… các sinh hoạt tôn giáo diễn ra sôi nổi, đa dạng và phong phú. Các ngày lễ trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức trang nghiêm, quy mô, thu hút ngày càng đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hóa cộng đồng được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng, như: Phật đản (Phật giáo), Noel (Công giáo và đạo Tin lành), Ngày khai đạo (Cao Đài, Hòa Hảo), Ramadan (Hồi giáo),… Lễ hội của nhiều tôn giáo đều trở thành lễ hội chung vui của toàn dân tộc và được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm bảo an ninh trật tự. Đặc biệt, lễ Phật đản của Phật giáo đã chính thức được UNESCO công nhận là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới. Như vậy, Nhà nước Việt Nam đã luôn tạo điều kiện để nhân dân được tự do tham gia các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Việc đa dạng các hoạt động tôn giáo là minh chứng cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã và đang được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền con người, bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

Thực tế khách quan nay đã bác bỏ sự xuyên tạc tình hình tự do, tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam của USCIRF.

Thực ra, USCIRF luôn tự cho mình cái quyền đánh giá, nhận xét về tình hình đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo đó, USCIRF đề ra tiêu chuẩn “kép”, nếu là những quốc gia “cùng hội, cùng thuyền” thực hành dân chủ kiểu phương Tây, kiểu Mỹ, thì họ ca ngợi hết lời. Còn nếu không, thì họ tìm mọi cách để xuyên tạc về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước đó, tró đó có Việt Nam. USCIRF nên nhớ rằng, mối quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ hiện nay là mối quan hệ đối tác toàn diện và ngày càng sâu sắc. Việt Nam công nhận, tôn trọng thể chế chính trị, nền dân chủ của Hoa Kỳ và Hoa Kỳ công nhận, tôn trọng thể chế chính trị, nền dân chủ Việt Nam.

Đó là lợi ích chính đáng của cả hai nước, hai dân tộc.

Hiện nay, Việt Nam – Hoa Kỳ đều đã và đang tìm mọi cách làm sâu sắc mối quan hệ đối tác toàn diện nhằm đáp ứng lợi ích của nhân dân hai nước và hoà bình, phát triển trong khu vực và thế giới. Hành động “chọc gậy bánh xe” của USCIRF là đi ngược lại xu thế trên, làm tổn hại đến lợi ích của hai dân tộc, nhân dân hai nước cần phải lên án và nhất định bị thất bại./.

Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2023

Việt Nam luôn kiên định, nhất quán trong đường lối đối ngoại

 Trước chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden, một số tổ chức, cá nhân phản động, đài báo nước ngoài đã phát tán nhiều tài liệu, bình luận xuyên tạc về đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Đơn cử như: ngày 28/8, đối tượng Nguyễn Văn Đài đăng tải nội dung bình luận, cho rằng Việt Nam muốn nâng cấp quan hệ ngoại giao là để “cứu Đảng chứ không phải cứu dân, cứu nước”; kêu gọi cần cứng rắn trong đàm phán về nhân quyền, v.v. Đây là hành động xuyên tạc tình hình nội bộ Việt Nam, kích động, chia rẽ mối quan hệ của Việt Nam và các nước trên thế giới, cần đấu tranh, bác bỏ.

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden (Ảnh: AP)

Trước hết, cần khẳng định rõ: ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích gì khác. Tất cả hoạt động của Đảng đều vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Trên lĩnh vực đối ngoại, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn kiên định, nhất quán với đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Điều này được khẳng định trong văn kiện các kỳ đại hội toàn quốc của Đảng, được đánh dấu từ Đại hội VI (tháng 12/1986) đến Đại hội XIII của Đảng (tháng 01/2021). Qua mỗi kỳ đại hội, quan điểm đường lối đối ngoại của Đảng ta tiếp tục được bổ sung, phát triển, hoàn thiện hơn, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với xu thế phát triển của tình hình khu vực và thế giới.

Thứ hai, với việc kiên trì, nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, đất nước ta đã từng bước phá thế bao vây, cấm vận, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển, đảo với các nước có liên quan; mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa; tham gia sâu, rộng vào các tổ chức quốc tế. Sau 37 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa to lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, văn hóa - xã hội có bước phát triển mới, quốc phòng, an ninh được tăng cường; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 nước, vùng lãnh thổ trên thế giới (có cả 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc); trong đó, có 33 nước là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; 04 nước là đối tác chiến lược toàn diện. Đồng thời, Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế lớn, như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), v.v.

Thứ ba, để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục kiên định, nhất quán với đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Do vậy, việc mở rộng, nâng cấp quan hệ ngoại giao trở thành đối tác chiến lược toàn diện với các nước lớn trên thế giới là hoàn toàn bình thường, phù hợp với xu thế của thời đại.

Chính vì thế, việc Nguyễn Văn Đài cho rằng Việt Nam muốn nâng cấp quan hệ ngoại giao là để “cứu Đảng chứ không phải cứu dân, cứu nước” là hoàn toàn phi lý, lộ rõ dã tâm xấu độc của kẻ có thâm thù với chế độ đang phải sống tha phương cầu thực mà thôi./.

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2023

Lại bàn về chủ nghĩa dân tộc

 

GS,TS Đàm Đức Vượng

Gần đây, trên trang mạng lại xuất hiện bài viết: “Chủ nghĩa dân tộc” của một phần tử khiêu khích. Tác giả viết: “Cộng sản Việt Nam trong quá khứ đã rất thành công trong việc bưng bít các tội phản quốc của Đảng, nhưng với sự phát triển của mạng lưới internet, bộ mặt thật của Đảng Cộng sản Việt Nam đang bị lột dần, sự thật đang bị phơi bày trước công chúng và mọi con dân Việt Nam sẽ là một chiến sĩ đem sự thật ra ánh sáng. Chủ nghĩa dân tộc cuối cùng sẽ chiến thắng chủ thuyết cộng sản”. Người viết bài này hiểu không đúng về chủ nghĩa dân tộc, ca ngợi chủ nghĩa dân tộc một cách vô căn cứ, bóp méo sự thật, lồng ý nghĩ chủ quan duy ý chí của mình vào trong bài viết.

Đã có nhiều bài viết về chủ nghĩa dân tộc, trong đó có bài về “chủ nghĩa dân tộc” của “Bách khoa toàn thư mở Weekipedia”. Bài này, tuy trình bày chưa mạch lạc và có hệ thống, nhưng cũng đã cung cấp một số tư liệu về chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên, các bài viết đã được công bố chưa làm rõ thế nào là chủ nghĩa dân tộc và Việt Nam có đi theo con đường của chủ nghĩa dân tộc hay không. Tôi xin trình bày một cách có hệ thống về thực chất của chủ nghĩa dân tộc.

Hiện nay trên thế giới đã đưa ra khoảng 200 định nghĩa khác nhau về các chủ nghĩa dân tộc, như chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân tộc sô vanh, chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa dân tộc cực hữu, chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa dân tộc ly khai, chủ nghĩa dân tộc quốc gia, chủ nghĩa dân tộc quốc dân, chủ nghĩa dân tộc tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc phản động, chủ nghĩa dân tộc chân chính,… Nhận thức về chủ nghĩa dân tộc cũng rất khác nhau, có người nhìn nó về mặt tích cực, nhưng cũng có người nhìn nó về mặt tiêu cực.

 Theo “Bách khoa toàn khoa mở Wekipedia”, định nghĩa về chủ nghĩa dân tộc tiếng Anh là Nationalism là một khái niệm đa dạng, trừu tượng, có tính đa chiều, còn được dịch thành “tư tưởng dân tộc, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa quốc dân”,… Nó không phải là một hệ tư tưởng nhất thể, nên vẫn còn đang tranh cãi. Chủ nghĩa dân tộc được ghi trong tiếng Anh vào đầu năm 1715 và được phổ biến vào cuối thế kỷ XVIII. Cách mạng Pháp đưa ra khái niệm “quốc gia dân tộc” cũng là một dạng của chủ nghĩa dân tộc.

“Chủ nghĩa cộng sản khoa học – Từ điển” định nghĩa chủ nghĩa dân tộc là “tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn dân tộc”1. “Chủ nghĩa dân tộc có nhiều thứ, từ chủ nghĩa sô vanh phát xít trắng trợn đến chủ nghĩa dân tộc tinh tế được che đậy bằng những lời lẽ phát xít suông sáo. Nó là chủ nghĩa sô vanh nước lớn của một dân tộc đi áp bức và khinh miệt các dân tộc khác, lại cũng là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi của dân tộc bị áp bức, biểu hiện trong khuynh hướng khép kín và không tin vào các dân tộc khác. Mặt trái của chủ nghĩa dân tộc là chủ nghĩa thế giới của bọn đế quốc, tuyên truyền cho việc hòa tan các dân tộc và các sắc tộc trong các dân tộc”2. “Các quan hệ tư hữu và bóc lột đẻ ra chủ nghĩa dân tộc. Những đại diện của nó là giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Chủ nghĩa dân tộc xa lạ với bản chất của giai cấp vô sản là giai cấp đại diện cho chủ nghĩa quốc tế”3.

“Chủ nghĩa Mác không khoan nhượng với chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên, cũng có những thời kỳ mà trong phong trào giải phóng dân tộc, chủ nghĩa dân tộc của dân tộc bị áp bức được coi là cương lĩnh phục hồi dân tộc, là hệ tư tưởng và chính sách đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì độc lập về chính trị và kinh tế, vì chủ quyền và sự phát triển toàn diện của dân tộc mình”4.

“Về bản chất, chủ nghĩa dân tộc là thù địch với chủ nghĩa xã hội”5.

“Chủ nghĩa dân tộc là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng chủ nghĩa cơ hội “tả khuynh” cũng như hữu khuynh”6.

V.I.Lênin viết: “Tuyệt đối không còn nghi ngờ gì nữa, chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa xã hội – dân tộc giống nhau về mặt chính trị và về tư tưởng, có liên hệ với nhau và thậm chí giống hệt nhau”7.

“Chủ nghĩa dân tộc kết hợp với chủ nghĩa cơ hội trong phong trào cách mạng là đặc biệt nguy hiểm, vì nó thường che đậy bằng những thuật ngữ mácxít-lêninnít chân chính và có thể thực hiện được vai trò tiên phong trong công cuộc xây dựng xã hội mới, nếu nó không tạo ra được một bầu không khí không khoan nhượng đối với chủ nghĩa dân tộc và không khắc phục được chủ nghĩa dân tộc trước hết trong hàng ngũ của mình”8.

Những vấn đề trích dẫn trên đây ở trong “Chủ nghĩa cộng sản khoa học –  Từ điển” tuy chưa đầy đủ định nghĩa về chủ nghĩa dân tộc, nhưng cũng đã phản ánh phần nào về thực chất chủ nghĩa dân tộc.

Trong “Từ điển chính trị” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961, tr. 211) cũng định nghĩa về chủ nghĩa dân tộc. Đó là “Hệ tư tưởng và chính sách về vấn đề dân tộc của giai cấp tư sản”9. “Căn cứ vào những điều kiện lịch sử, chủ nghĩa dân tộc có thể giữ vững những vai trò khác nhau trong sự phát triển của xã hội”10.

Có tài liệu viết: “Đến cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa dân tộc biến dạng thành chủ nghĩa đế quốc, các cuộc xâm lược thuộc địa, các chế độ độc tài, rồi sau đó là chủ nghĩa phát xít. Từ đó, chủ nghĩa dân tộc được xem là xấu xa, kể cả trong mắt những người cánh tả lẫn tự do”.

Với việc chủ nghĩa tư bản chuyển biến thành chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa dân tộc trong tay giai cấp tư sản trở thành hệ tư tưởng và chính sách nhằm củng cố sự thống trị của một dân tộc này đối với một dân tộc khác, gieo rắc sự bất hòa dân tộc và thù hằn chủng tộc. Trong khi gieo rắc hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, giai cấp tư sản mong muốn, lôi kéo những người lao động ra khỏi cuộc đấu tranh giai cấp chống bọn bóc lột, đi vào con đường thù hằn dân tộc, gieo rắc sự bất hòa giữa giai cấp công nhân với các dân tộc khác nhau.

Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc phát triển ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Cao trào dân tộc của nhân dân các nước đó nhằm chống chế độ phong kiến và ách áp bức thuộc địa, vì thế, chủ nghĩa dân tộc chân chính có tính chất tiến bộ. Trong khi phân biệt một cách nghiêm túc sự khác nhau giữa cao trào dân tộc của nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc với chủ nghĩa dân tộc phản động của các nước đế quốc chủ nghĩa.

Chủ nghĩa dân tộc khác với phong trào giải phóng dân tộc, ở chỗ chủ nghĩa dân tộc là hệ tư tưởng và chính sách về vấn đề dân tộc của giai cấp tư sản, còn phong trào giải phóng dân tộc đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội.

Tại Việt Nam, trong “Hồ Chí Minh Toàn tập”, 15 tập11 có đăng “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ”, tác phẩm có thể là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó, có hẳn một mục viết về “chủ nghĩa dân tộc”.

Cách mạng Việt Nam không theo con đường của chủ nghĩa dân tộc, mà theo con đường của chủ nghĩa yêu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; dân tộc gắn với giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội; dân tộc gắn với thời đại; đi từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhằm mang lại độc lập, tự do, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không đi theo con đường của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cải lương, mà “là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”12.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta kiên quyết phản bác luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng, “thực chất Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa”; rằng, “chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”. Đây là luận điệu hết sức sai trái, xuyên tạc và bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh quyết không phải là người “dân tộc chủ nghĩa”, mà là người cộng sản, vị anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhà hoạt động cách mạng rất chuyên nghiệp. Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin, từ đó mà áp dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam để giải quyết vấn đề giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; sáng lập các lực lượng vũ trang nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cả đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Người là linh hồn của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”13.

Mọi luận điệu cho rằng, “Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa” cần phải phê phán và bác bỏ.  

——

1.Chủ nghĩa cộng sản khoa học – Từ điển, do Viện sĩ A.M.Rumiantxép chủ biên, Nxb Tiến bộ Mátxcơva và Nxb Sự thật, Hà Nội, đồng xuất bản, 1986, tr. 106.

2.Chủ nghĩa cộng sản khoa học – Từ điển, do Viện sĩ A.M.Rumiantxép chủ biên, Nxb Tiến bộ Mátxcơva và Nxb Sự thật, Hà Nội, đồng xuất bản, 1986, tr. 106.

3.Chủ nghĩa cộng sản khoa học – Từ điển, do Viện sĩ A.M.Rumiantxép chủ biên, Nxb Tiến bộ Mátxcơva và Nxb Sự thật, Hà Nội, đồng xuất bản, 1986, tr. 106.

4.Chủ nghĩa cộng sản khoa học – Từ điển, do Viện sĩ A.M.Rumiantxép chủ biên, Nxb Tiến bộ Mátxcơva và Nxb Sự thật, Hà Nội, đồng xuất bản, 1986, tr. 106.

5.Chủ nghĩa cộng sản khoa học – Từ điển, do Viện sĩ A.M.Rumiantxép chủ biên, Nxb Tiến bộ Mátxcơva và Nxb Sự thật, Hà Nội, đồng xuất bản, 1986, tr. 107.

6.Chủ nghĩa cộng sản khoa học – Từ điển, do Viện sĩ A.M.Rumiantxép chủ biên, Nxb Tiến bộ Mátxcơva và Nxb Sự thật, Hà Nội, đồng xuất bản, 1986, tr. 107.

7. V.I.Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nxb Tiến bộ, Mát xcơva, tập 26, tr. 185.

8.Chủ nghĩa cộng sản khoa học – Từ điển, do Viện sĩ A.M.Rumiantxép chủ biên, Nxb Tiến bộ Mátxcơva và Nxb Sự thật, Hà Nội, đồng xuất bản, 1986, tr. 107, 108.

9. Từ điển chính trị, do GS B.N Pônômarép làm Chủ biên, bản dịch tiếng Việt, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961, tr. 211.

10. Từ điển chính trị, do GS B.N Pônômarép làm Chủ biên, bản dịch tiếng Việt, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961, tr. 211.

11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, 15 tập, Nxb Chính trị, Nxb Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2011, tập1, tr.500.

12. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 3,4.

13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 21.