Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2023

Không thể ngăn khúc tráng ca Quốc khánh hòa bình, bôi nhọ thanh danh Chủ tịch Nước

Hôm nay là một ngày đặc biệt của những năm tháng đặc biệt: 2/9/1945 – 2/9/2023. Đúng vào ngày này của 78 năm trước đây, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ đã thay mặt Đảng, Nhà nước và toàn thể Quốc dân – Đồng bào trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thể nhân dân thế giới về sự khai sinh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Trong không khí trang nghiêm, hào hùng, vô cùng phấn khởi và rất đỗi tự hào, Bác Hồ đã khẳng định: Cách mạng Tháng Tám thành công với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là mốc son chói lọi trong lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH) cho dân tộc Việt Nam.

 Dấu ấn sâu đậm nhất của Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9 không chỉ khẳng định giá trị tư tưởng vĩ đại, bất hủ về quyền con người do Bác Hồ khởi xướng và tuyên bố trước quốc dân, đồng bào mà còn mang tính thời sự, có giá trị tuyên truyền, giáo dục đối với thế hệ trẻ ngày nay. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhất của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 được Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhấn mạnh: “Thắng lợi của Cách mạng, người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình”, kiến tạo và xây dựng cuộc sống mới.

Bài phát biểu của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tại Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh 2-9 ngắn gọn, súc tích, hàm chứa nhiều nội dung sâu sắc, bao quát toàn bộ tiến trình lịch sử Cách mạng Việt Nam; vừa đúc kết, khái quát giá trị, ý nghĩa lịch sử và hiện thực của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2-9, vừa khẳng định sự nhất quán về quan điểm và định hướng phát triển của nước ta thời gian tới, hướng đến kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng và 100 năm Ngày thành lập Nước. Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhấn mạnh “Việt Nam kiên trì phấn đấu thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân đã lựa chọn”.

Ngay sau bàiBài phát biểu của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tại Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh 2-9, báo chí, dư luận Nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao Bài phát biểu của Chủ tịch nước, nhiều lãnh đạo và nguyên thủ các quốc gia đã gửi điện chúc mừng, chia vui với Đảng, Nhà nước, Nhân dân ta và Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng về sự kiện quan trọng này.

2. Thế nhưng, đi ngược lại tấm lòng thiện chí, đức tin và những thông tin tích cực, đã xuất hiện “những kẻ phá ngang cuộc vui” này; bằng chứng là trên các trang mạng xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng, những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta đã thể hiện rõ sự thù hận và lòng căm giận Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2-9, họ đã “xả hận thù”, “sự căm tức” bằng những hành vi sai trái, phản động thông qua các tin, bài viết, những bình luận có nội dung xấu, độc nhằm “chọc gậy bánh xe”, “ném đá giấu tay”; “quay lưng lại chế độ”, chà đạp thô bạo lên lịch sử dân tộc, nói xấu đồng chí, đồng bào ta; hạ thấp uy tín, vị thế của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, cho rằng “Ông Thưởng gặp may bởi phe phái miền Nam đang lên”, “Ông Thưởng còn non và xanh”; qua đó, nói xấu các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ; thậm chí bôi đen “thần tượng Hồ Chí Minh”.

Sự tha hóa lương âm, nhàu nát danh dự và suy đồi về nhân phẩm đã hối thúc họ làm những việc “phản phúc” với một chuỗi hành vi sai trái, thậm chí dã man, tàn ác. Vì lẽ đó, họ đã phát ngôn và buông ra những lời lẽ thóa mạ, giọng điệu lạc lõng, trắng trợn bịa đặt, xuyên tạc sự thật nhằm phủ nhận thành quả Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2-9; phủ nhận sạch trơn những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trong lãnh đạo… Tất cả sự sai trái, thu địch đều bắt nguồn từ sự hận thù, căm giận ấy.

Đúng là vào cái ngày lịch sử vĩ đại ấy – ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2-9-1945 vĩ đại, thiêng liêng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và thế hệ 7 X, 8X hôm nay chưa chào đời, nhưng trong cơ thể và trong, trái tim họ, dòng máu dân tộc vẫn chảy, vẫn cùng chung hơi thở với đồng chí, đồng bào, vẫn cùng uống nguồn nước, thấm sâu dòng máu Lạc Hồng, linh hồn, tâm hồn văn hóa dân tộc, cốt cách, nhân phẩm con người Việt Nam; lẽ ra họ phải mừng vui vì điều tốt lành ấy chứ, đó là phúc lớn của dân tộc ta. Cũng giống như chúng ta, những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta, ăn gì, uống gì, lớn lên bằng cách nào, họ có phải từ trên trời rơi xuống hay ở dưới đất mọc lên mà cả gan, bạo mồm, phát ngôn bừa bãi, toàn là những thứ rác rưởi, sai trái, độc hại như bụi bẩn mang vi rút giết người, họ có xứng đáng là một con người hay không?!

Lịch sử dân tộc đã ủy thác, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta tin tưởng, giao phó cho thế hệ trẻ chúng ta mà Chủ tịch Nước Võ Văn Thưởng là hạt nhân lãnh đạo tiêu biểu, gánh vác những nhiệm vụ, trọng trách quan trọng. Đúng là vậy! Ai có lương tâm, có trách nhiệm với chính cuộc đời mình, với gia đình mình, với Nhân dân và quốc gia – dân tộc, thì đương nhiên, phải thừa nhận cái đúng, cái tốt, cái chính nghĩa như một đạo lý nhân sinh, một lẽ phải thông thường; cớ sao lại xiên xẹo, lấy việc “quốc gia đại sự làm trò mua vui”, lại gân cổ “cãi cối cãi chầy”, châm chính, bài xích, lấy cớ này cớ khác nói xấu lãnh tụ của Đảng, hạ thấp uy tín, danh dự của Chủ tịch Nước, các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nhất là khi họ đang thực hiện công vụ, đảm đương chức trách, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ủy thác, giao phó rất nặng nề.

Đạo lý và pháp lý, văn hóa dân tộc Việt Nam không cho phép bất cứ ai, dù xuất thân từ đâu, giữ cương vị gì, dù tuổi đời lớn bao nhiêu, đáng kính đến mức nào nhưng phát ngôn thiếu xây dựng, nói những điều xấu xa, bỉ ổi, dung túng cho cái xấu; làm những việc sai trái, vô lương tâm đều không thể chấp nhận, phải cực lực lên án, loại bỏ. Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2-9 đã không dung thứ cho bất cứ cái sai, cái ác nào do kẻ thù xâm lược gây ra cho dân tộc, thì nay trong công cuộc đổi mới – cuộc kiến tạo vĩ đại để xây dựng đất nước cường thịnh, văn minh, phát triển theo định hướng XHCN, lại càng phải đẩy mạnh đấu tranh tẩy sạch, rửa sạch “mọi thứ bùn nhơ bẩn” ấy trong xã hội ta.

Nhìn thẳng vào sự thật, trung thực và khách quan mà nói, Bài phát biểu của Chủ tịch nước không chỉ là sự kết tinh ý chí, tinh thần, khí phách và là cái hồn cốt của dân tộc ta xuyên suốt chặng đường cách mạng hơn 93 năm qua, kể từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay, mà còn là luận cứ khoa học xác đáng, là chỗ dự vững chắc nhất để chúng ta tự tin đứng vững trên vị trí của mình, kiên định mục tiêu đấu tranh, kiên quyết phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và thái độ tiêu cực khi họ xuyên tạc, phủ nhận thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cho rằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 là “sự ăn may”, một sự “tình cờ”, “ngẫu nhiên” do “thời cuộc đem lại và do người Nga, người Nhật đã giúp đỡ Việt Nam”còn “Chính phủ Hồ Chí Minh và Quân đội chẳng có công cán gì”, “ngồi mát ăn bát vàng”.

Từ đó, họ công khai trắng trợn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ; hạ thấp tầm vóc, giá trị, ý nghĩa cũng như sự ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đối với tiến trình Cách mạng Việt Nam và cho rằng, “thời nay Việt Nam hoàn toàn không cần nhắc lại giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9”. Luận điệu này thật xảo trá và hết sức ngạo mạn, là lời nói của kẻ khùng điên, cần phải loại bỏ nó khỏi đời sống xã hội Việt Nam!

3. Cần khẳng định lại cho rõ rằng: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 hoàn toàn không phải là “sự tình cờ”, một sự “ăn may”, “ngẫu nhiên”, “tự đến” như một nhóm người phản động xuyên tạc, vu khống mà là kết quả phấn đấu, chiến đấu bền bỉ, lâu dài, dẻo dai với sự chung sức, đồng lòng và ý chí quyết tâm chiến đấu, không quản gian khổ, hy sinh của cả một dân tộc, gần 25 triệu người. Điều này đúng như Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã khẳng định trong bài phát biểu: “Từ mùa thu Cách mạng năm 1945, với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, dân tộc Việt Nam đã kiên cường, anh dũng trải qua nhiều cuộc trường chinh vô cùng gian khổ, ác liệt, với sự hy sinh của hàng triệu người con ưu tú để giải phóng dân tộc”.

Điều sâu sắc mà Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã nói trong Bài phát biểu có ý nghĩa định hướng nhận thức và hành động bởi nó được kiểm nghiệm từ chính thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam. Rõ ràng là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “không tự nhiên đến”; không phải là “sự ăn may”, “tình cờ” hay là kết quả “ngẫu nhiên” như người ta nói xạo, đàm tiếu mà là kết quả của quá trình đấu tranh đầy gian khổ, nhuốm đẫm máu đào của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ; thể hiện sâu sắc qua các phong trào cách mạng: 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 với minh chứng tội ác: Nhà tù – Địa ngục Hòa lò, Hà Nội, Nhà tù – Địa ngục Sơn La, Nhà tù – Địa ngục Côn Đảo…

 Cho nên, ai đó “hãy phanh lại sự lộng ngôn”, đừng mạnh mồn nói láo, xuyên tạc sự thật nữa! Hãy tỉnh táo mà nhìn nhận xem nếu không có sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ; không có sự hy sinh xương máu của đồng chí, đồng bào, liệu có được thắng lợi của của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 hay không; có kẻ thù nào tự dâng hiến lợi ích cho cách mạng không. Đây là minh chứng sinh động nhất để bác bỏ mọi quan điểm sai trái, thù địch, cố tình xuyên tạc giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2-9.

Cho nên, đánh giá đúng tầm vóc, giá trị, ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2-9, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã khẳng định, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là “tài sản vô giá, sức mạnh to lớn để nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh chính là tinh thần yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí kiên cường và lòng quả cảm, tinh thần quyết tâm, tự lực, tự cường, khát vọng mãnh liệt vì độc lập, tự do, hòa bình, hạnh phúc. Các giá trị cao đẹp ấy được hun đúc, bồi đắp, giữ gìn và phát huy qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam”.

Sự thật Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2-9 là như vậy. Trên hết và quan trọng nhất là nó khẳng định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Mọi chủ trương, quyết định của Đảng đã khắc ghi đậm nét trong từng sự kiện lịch sử, từng chiến thắng. Điều ấy đã được sử sách ghi nhận, các nhân chứng lịch sử đã nói, đã viết; các cựu binh Pháp đã thừa nhận, khẳng định. Không ai có thể bóp méo sự thật, xuyên tạc các sự kiện ấy. Đúng là nếu không có Ngày Quốc khánh 2-9-1945, chúng ta không có được cơ ngơi, tiền đồ và cuộc sống hòa bình, hạnh phúc ngày nay. Điều đó bác bỏ luận điệu sai trái khi gọi ngày Quốc khánh 2-9 là “ngày quốc nhục, quốc hận” bởi nó “gây họa buồn đau cho dân tộc”. Nó cũng bác bỏ luận điệu xảo trá: “nếu không có Ông Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam thì nước ta đã trở thành con Rồng, con Hổ ở châu Á từ lâu”, …

4. Ai đó, tổ chức chống cộng nào đó, chỉ vì lợi ích, sở thích cá nhân mà tuôn ra những lời nói thiếu văn hóa với thái độ miệt thị, chống phá Đảng, Nhà nước ta, phủ nhận giá trị và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 và nói xấu lãnh tụ của Đảng, Nhà nước là vô lý. Các người không chỉ bộc lộ ý thức vô trách nhiệm đối với các bậc tiền nhân và tỏ rõ thái độ “vô ơn bạc nghĩa” với nòi giống, tổ tiên, những người đã sinh thành, dưỡng dục mà còn phơi bày bản chất xấu xa, bỉ ổi của những kẻ “giả nhân giả nghĩa” bởi một chuỗi hành vi “phi nhân tính”, hết sức vô cảm, vô tâm, lầm lạc, phi lý đến mức vô liêm sỉ.

Trước đây khi còn lực lượng và được quân xâm lược “chống lưng”, các người còn chẳng làm nên trò trống gì, thì nay, “vô danh, tiểu tốt” biết điều thì “co vòi, cụp đuôi” lại. Trước sau như một, đất nước này, dân tộc này vẫn kiên định mục tiêu và con đường CNXH đã chọn. Điều sâu sắc ấy đã được Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tái khẳng định, “Việt Nam kiên trì phấn đấu thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc, gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân đã lựa chọn”. 

Nhân ngày Tết Độc lập, thay mặt Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã bày tỏ lòng biết cảm ơn sâu sắc đến bạn bè quốc tế, các quốc gia, đối tác và nhân dân tiến bộ trên thế giới đã đồng hành với Việt Nam, dành cho Việt Nam sự yêu mến, tin cậy, sự chia sẻ, hỗ trợ quý báu, góp phần vào những thành tựu của Việt Nam 78 năm qua, để Việt Nam “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Chủ tịch nước tin rằng, Việt Nam sẽ làm hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị và quan hệ hợp tác quốc tế bền chặt trong thời gian tới trên cơ sở đoàn kết, thúc đẩy hợp tác; củng cố chủ nghĩa đa phương; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; kiên quyết chống mọi thế lực thù địch, phản động, cản trở lịch sử. Đúng là, âm hưởng bài ca cách mạng, Quốc khánh hòa bình, sáng ngời đạo đức, nhân sinh của Đảng mà Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng là một biểu trưng cho thiện chí, sức mạnh, khát vọng hòa bình, hạnh phúc của Nhân dân ta./.

Cần khách quan trong nhìn nhận, đánh giá về Việt Nam

 


 

Lâu nay, những người có thâm thù, không ưa Nhà nước Việt Nam đã không tiếc lời phê phán sự yếu kém của Nhà nước ta. Họ sử dụng đủ các ngôn từ từ thâm thúy, xỉa xói đến những ngôn từ thô thiển, tục tĩu… tất cả đều nhằm hạ bệ, phủ nhận Nhà nước Việt Nam mà họ không chịu suy nghĩ, hoặc họ biết nhưng cứ làm ngơ đem Nhà nước ta ra so sánh với nước nọ nước kia để có “cơ sở” kết luận Nhà nước ta không bằng các nhà nước đó. Từ đấy họ cho rằng, phải thay đổi Nhà nước hiện tại bằng nhà nước khác để đất nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu(!).

Thoảng qua, những ai nhẹ dạ cả tin thấy có lý, nhưng suy nghĩ, tìm hiểu căn nguyên của sự khác nhau đó thì chúng ta sẽ hiểu và thấy rõ thâm ý của những ý kiến đòi thay Nhà nước ta bằng nhà nước khác.

Nhìn lại lịch sử ra đời của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam cho thấy, trong quá trình phát triển Nhà nước ta chia ra làm hai thời kỳ:

Một là, thời kỳ nhà nước tổ chức toàn dân tộc thực hiện thắng lợi các cuộc chống ngoại xâm, thống nhất đất nước (1945-1975). Thời kỳ này, Nhà nước công nông còn non trẻ, vừa mới ra đời còn thiếu thốn đủ mọi thứ từ đội ngũ cán bộ có trình độ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đến kinh tế còn bộn bề khó khăn… Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” mà nhà nước ấy đã phải tổ chức toàn dân kháng chiến chống lại thực dân, đế quốc sừng sỏ của thế giới. Mà chiến tranh có quy luật của nó, nên nhà nước ấy phải tổ chức toàn dân tộc theo quy luật của chiến tranh nhằm tạo nên sức mạnh vượt trội giành chiến thắng theo quy luật: Mạnh được yếu thua. Và nhà nước ấy đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khi tổ chức toàn dân tộc đánh bại hai tên đế quốc hàng đầu của thế giới trong thế kỷ XX.

Trong giai đoạn này, nhiệm vụ nổi trội của nhà nước là tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng kẻ thù xâm lược, nên mặc dù có thực hiện nhiệm vụ sản xuất, phát triển kinh tế, như Đảng đã đề ra thực hiện hai chiến lược cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, nhưng xây dựng miền Bắc để trở thành hậu phương lớn của miền Nam ruột thịt nên xây dựng, phát triển kinh tế cũng để phục vụ cho chiến tranh là chính.

Hai là, thời kỳ nhà nước xây dựng CNXH (1975-nay). Khi đất nước giành toàn thắng, thống nhất đất nước bước vào xây dựng CNXH, Nhà nước Việt Nam từ quản lý, điều hành đất nước thời kỳ chiến tranh chuyển sang nhà nước quản lý, tổ chức, điều hành đất nước xây dựng CNXH mà không thay bằng nhà nước khác, vẫn là nhà nước ấy nhưng thực hiện nhiệm vụ mới. Đây là bước chuyển đầy khó khăn và đòi hỏi phải có thời gian. Chính những ưu việt của nhà nước thời kỳ kháng chiến lại là những níu kéo, lực cản khi nhà nước ấy thực hiện nhiệm vụ mới – nhiệm vụ xây dựng. Chẳng hạn như cơ chế tập trung thời kỳ kháng chiến đã tạo nên tính ưu việt trong kháng chiến, chuyển sang thời kỳ xây dựng đất nước, nhà nước ấy không dễ gì từ bỏ, đòi hỏi phải qua thực tiễn kiểm nghiệm 10 năm (1975-1985) mới thấy cơ chế cũ không còn phù hợp để chuyển sang cơ chế mới – cơ chế thị trường. Điều đó cho thấy, nhận thức là một quá trình, vì thế muốn thay đổi cơ chế chính sách cũng đòi hỏi phải có thời gian dài hơn thời gian của nhận thức.

Đặc biệt, bộ máy nhà nước thời kỳ xây dựng đất nước phải chịu nhiều tác động hơn so với bộ máy nhà nước thời kỳ chiến tranh. Trong thời kỳ chiến tranh, toàn dân nói chung, bộ máy nhà nước nói riêng chịu sự tác động của bom đạn, của đạn bọc đồng, phân rõ giới tuyến địch – ta, nên cũng dễ đề cao cảnh giác để có thể tránh được bom, đạn của kẻ thù. Nhưng bộ máy nhà nước thời kỳ xây dựng đất nước chịu nhiều tác động hơn, họ chịu nhiều cám dỗ cả vật chất, tình cảm, tinh thần… chịu tác động của “đạn bọc đường” mà “mật ngọt chết ruồi” nên đội ngũ cán bộ của nhà nước khó nhận biết được chính – tà. Vì thế, bộ máy nhà nước ấy dễ bị cám dỗ, tha hóa, xa rời phẩm chất, đạo đức, lối sống của người cộng sản. Điều đó phần nào lý giải câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Thắng đế quốc đã khó, thắng nghèo nàn, lạc hậu còn khó hơn nhiều.

Trong khi các nhà nước mà họ đưa ra so sánh với Nhà nước Việt Nam lại chỉ thực hiện một nhiệm vụ là xây dựng và phát triển đất nước xuyên suốt của cả quá trình ra đời phát triển của các nhà nước đó, thời gian các nhà nước ấy thực hiện nhiệm vụ xây dựng đất nước cũng dài hơn nước ta. Vì thế, họ có thành quả xây dựng đất nước tốt hơn nước ta cũng là lẽ đương nhiên và dễ hiểu. Thế nên, vẫn biết rằng mọi sự so sánh đều là khập khễnh, nhưng sự so sánh của họ giữa Nhà nước ta với một số nước không chỉ là sự khập khễnh mà còn là sự bất công nữa! Vậy mà họ cứ phê phán, phê phán lấy được để đưa ra kết luận cần phải thay Nhà nước Việt Nam hiện nay bằng nhà nước khác. Và họ là những người đảm nhiệm nhiệm vụ của nhà nước khác đó để thay cho nhà nước hiện tại. Thật là “sáng kiến vĩ đại” đến những em bé cũng phải… phì cười. Điều ấy cho thấy, những người phê phán Nhà nước ta đã không khách quan trong đánh giá về vai trò của Nhà nước ta hiện nay. Để Nhà nước ta hiện nay thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần đẩy mạnh xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh. Theo đó, cần tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ nhà nước “vừa hồng, vừa chuyên” theo tinh thần nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII). Đẩy mạnh việc học tập thực chất theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu mỗi tổ chức Đảng, chính quyền các cấp. Thực hiện công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả theo tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Huy động cả hệ thống chính trị, toàn dân cùng tích cực tham gia công cuộc đầy khó khăn, thách thức này. Cùng với đó là có cơ chế, chính sách phù hợp để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của đội ngũ này để họ một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân, dân với Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, v.v./.

 

Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2023

Tự do, dân chủ của nhân dân Việt Nam hiện nay là điều không thể xuyên tạc, phủ nhận!

 


 Thiết tưởng cần trở lại với mấy khái niệm cơ bản: Tự do, Dân chủ, Nhân quyền ở Việt Nam. Điều mà hầu như tất cả Người Việt Nam đều biết: Tự do, Dân chủ, Nhân quyền ở Việt Nam đều gắn với sự ra đời của chế độ xã hội mới-  Mở đầu từ cuộc Cách mạng tháng tám, 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

 

Cách đây ít hôm, nhân kỷ niệm cuộc Cách mạng tháng tám,1945, một kẻ bất hảo tán phát bài trên trang RFA:  “Sớm muộn đến lúc Đảng cộng sản ViệtNam cũng phải thực hiện “Quyền tự do dân chủ thực sự” cho người dân”. Đó là bài viết của một người được RFA gọi là “Nhà nghiên cứu lịch sử (Thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội)  trong dịp chính quyền và Đảng cộng sản Việt Nam đánh dấu tròn 78 năm cuộc Cách mạng tháng Tám … Ngay lập tức, một tài khoản đã trả lời bằng câu hỏi: Chẳng lẽ chế độ xã hội Việt Nam ngày nay không có dân chủ? ; “Chẳng lẽ Y post bài xuyên tạc chế độ xã hội trên mạng mà không bị ngăn chặn là chế độ “ độc tài” Trong bài, Y viết: “Nếu như Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục cái cách mà các nhà lãnh đạo của họ đang làm, tức là mỗi một kỳ Đại hội Đảng, rồi sau đó là kỳ bầu cử Quốc hội vẫn cứ nói với người Việt Nam là bầu cử “ Tự do, Dân chủ, ngày hội non sông” v.v…, thì thực sự là nhận thức của người Việt Nam ngày nay không còn phải là của người Việt Nam mấy chục năm về trước” (Lê Văn Sinh từ Khoa sử, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội hôm 18/8/2023).

Tự do không có nghĩa người ta muốn làm gì thì làm…Tự do luôn có khuôn khổ của nó- Đó là pháp luật. Dân chủ cũng như vậy. Mọi người đều có quyền nhưng quyền cũng phải nằm trong các quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Trở lại với chủ đề bài viết- Trong Tuyên ngôn độc lập, 1945, bất ngờ cụ Hồ lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, đi theo con đường của chủ nghĩa Lênin mà lại trích Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ, Tuyên ngôn nhân quyền…của cách mạng Pháp…Một tài khoản khác đã “ phản biện”: Cụ Hồ đi theo Chủ nghĩa Lênin nhưng không phải là người giáo điều…Cụ kế thừa các giá trị tư tưởng chung của nhân loại, trong đó có Cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp.

 Không phủ nhận rằng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và trong thời kỳ trước đổi mới (1956 -1985) Việt Nam đã phạm phải sai lầm về nhận thức trên lĩnh vực kinh tế. Đó là đã giáo điều trong việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài- xóa bỏ các thành phần kinh tế tư nhân, đồng thời thực hiện chính sách cải cách ruộng đất…Không ít người lao động, có ruộng đất đã trở thành đối tượng bị đấu tố…Tuy nhiên sai lầm này đã được Đảng ta sớm phát hiện. Còn nhớ hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh lau nước mắt công khai thừa nhận sai lầm trong cải cách ruộng đất…

Dưới tiêu đề: “Mâu thuẫn và xung đột xã hội - thách thức hàng đầu”, Lê Văn Sinh cho rằng xã hội Việt Nam đang tồn tại “mâu thuẫn” và “xung đột” xã hội, y nói:

“Tôi nghĩ là tầng lớp trung lưu Việt Nam ngày càng nhiều lên, những tầng lớp hữu sản ngày càng nhiều lên và chính theo mô hình của chủ nghĩa Marxism, … tầng lớp ấy sẽ đòi hỏi tự do dân chủ … trong khi đó một bộ phận chuyên nghiệp ( ý nói cán bộ Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam) nắm chính quyền chỉ thuần làm chính trị mà không tạo ra sản phẩm cho xã hội …thì chuyện đó sẽ tạo  mâu thuẫn xã hội, mà mâu thuẫn đó sẽ phải giải quyết. Mâu thuẫn hàng đầu hiện nay là: “Một nền kinh tế thị trường …với chế độ độc đảng và sự quản trị xã hội như mô hình Xô Viết trước đây…, thì nó tự phá hủy.” Nguyễn Quang A, thì “chia sẻ” với Đài Á Châu Tự Do (RFA): “ Đi sang Lào và Campuchia, thấy người ta văn minh gấp ngàn lần mình – các lái xe Việt Nam, tại sao phải vội mà đi một tí là phải bóp còi inh ỏi lên, gây ô nhiễm môi trường. Chỉ cần vận động một ông lái xe ít bóp còi đi, đấy là việc tham gia vào dân chủ hóa ở Việt Nam đó, không có gì cao xa cả”.

Còn Lê Văn Sinh thì viết: “Tôi hy vọng tầng lớp trung lưu Việt Nam ngày càng nhiều lên, ngày càng ý thức được một xã hội dân chủ thực sự thì xã hội Việt Nam sẽ thay đổi theo hướng tốt, chiều hướng tích cực, đó là thực hiện một xã hội dân chủ thực sự cho Việt NamViệt Nam sẽ có một nền báo chí tự do, xã hội dân sự phát triển và có một Hiến pháp thực sự của dân, do dân, vì dân… Đương nhiên khi xã hội Việt Nam có dân chủ, dân chủ thực sự, thì nhân quyền sẽ đi theo đó và pháp quyền cũng đi theo đó,”…

1- Tự do, Dân chủ, Nhân quyền là những giá trị cao quý, cốt lõi của các chế độ xã hội. Mỗi một một bước tiến của lịch sử đều đem lại cho những giá trị mới. Ở Việt Nam, chế độ Xã hội XHCN mà ban đầu là chế độ dân chủ cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam đã đem đến cho dân tộc Việt Nam nhiều giá trị như chính trị, kinh tế và văn hóa. Trong chính trị, đó là quyền tự do dân chủ của tất cả mọi người.

2- Tự do, Dân chủ, Nhân quyền ở Việt Nam cũng như ở các quốc gia… đều có khuôn khổ của nó- Đó là pháp luật. Dân chủ cũng như vậy. Mọi người đều có quyền nhưng quyền cũng phải nằm trong các quy định của Hiến pháp và pháp luật…Chẳng hạn quyền tự do ngôn luận không có nghĩa người ta có quyền vu khống xuyên tạc chế độ xã hội, xúc phạm uy tín danh dự của cá nhân…; Dân chủ cũng như vậy, mọi người làm chủ xã hội cũng phải thông qua các đại diện của mình. Những kẻ xuyên tạc chế độ xã hội cho dù trong thực tế hay trên không gian mang cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ai cũng biết Dân chủ, Tự do, Nhân quyền, ở tất cả các quốc gia đều có tính phổ quát vừa có tính đặc thù. Tính đặc thù bắt nguồn từ chế độ chính trị và truyền thống dân tộc. Trong văn hóa- chính trị Việt Nam: Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam là những giá trị cao quý, được pháp luật bảo vệ, không ai có quyền xúc phạm…dù ở trên không gian mạng. Tương tự như vậy trong đời sống gia đình, xã hội…Bố Mẹ, người cao tuổi phải luôn được xã hội tôn trọng…

3- Tuy nhiên các quyền Tự do, Dân chủ đều có những giới hạn luật định- Đó là các quy định của Hiến pháp. Tại Hiến pháp 2013 quy định Đảng cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo Dân tộc Việt Nam xây dựng đất nước theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin tiến tới mục tiêu “Dân giầu, Nước mạnh, Xã hội Công bằng, Dân chủ, Văn minh”. Nói cách khác không ai có thể xuyên tạc, phủ nhận quyền tự do, dân chủ của nhân dân Việt Nam hiện nay.

4- Thực tiễn cho thấy, Nhân dân Việt Nam ngày nay đã và đang xây dựng và bảo vệ đất nước theo các giá trị chung của cộng đồng quốc tế đồng thời vẫn giữ những nét bản sắc của Dân tộc. Chẳng hạn như lòng thủy chung, trước sau như một đối với các dân tộc đã từng giúp nhân dân Việt Nam kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, trong đó có nhân dân Liên Xô, ngày nay chủ yếu nhân dân Nga, nhân dân Trung quốc. Tuy nhiên với dân tộc Việt Nam- Độc lập Dân tộc, Tự do của nhân dân…đặc biệt là toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải là giá trị thiêng liêng…không cho phép ai, với lý do gì để xâm phạm. Có thể nói- Dân tộc ta cho đến nay sở dĩ có thể có vị thế cao trong cộng đồng quốc tế là vì Nhân dân Việt Nam không chỉ kế thừa các giá trị truyền thống mà còn kế thừa và phát triển những giá trị chung của nhân loại, trong đó có Tự do, Dân chủ và Quyền con người…/.  

 

“Hội luận…” hay tạo cơ hội để xuyên tạc chống phá?



Đức Minh

Trong xu thế phát triển của nền chính trị thế giới hiện nay, việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền nói chung, lợi dụng tự do tôn giáo nói riêng để chống phá nước này, nước kia là hoạt động lỗi thời, không phù hợp. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn chưa từ bỏ mà tiếp tục lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá Việt Nam. Tại một số nước, vẫn còn có các nhóm người công khai lợi dụng vấn đề tôn giáo, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam…

Đáng lưu ý mới đây, đài RFA cùng một số trang mạng xã hội của các tổ chức phản động lưu vong ra sức tung hô, khuyếch trương, cái gọi là buổi “Hội luận Ngày Quốc tế tưởng niệm nạn nhân bị bạo hành vì tôn giáo hay niềm tin” (22/8) do “Ủy ban Cứu trợ người vượt biển – BPSOS” tổ chức. Nhiều tài liệu từ buổi “Hội luận…” này được RFA và một số trang mạng xã hội phát tán có nội dung thông tin xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt Nam, vu cáo Việt Nam “đàn áp” các “nhóm tôn giáo độc lập”,… Cần phải nói ngay rằng, những người đưa ra các luận điệu trên chứng tỏ họ chẳng hiểu gì về tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền nhân thân cơ bản của con người. Điều này không chỉ được thể hiện rõ ràng trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà còn được quy định cụ thể trong hệ thống luật pháp của các quốc gia. Muốn biết một nhà nước có tôn trọng quyền tự do tôn giáo hay không thì hãy nhìn vào hệ thống hiến pháp, pháp luật, quy định của đất nước đó.

Tại Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 16-12-1966 (Việt Nam đã tham gia Công ước này ngày 24-9-1982), ghi rõ: “1. Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ tín ngưỡng, tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và giảng đạo; 2. Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hoặc tín ngưỡng; 3. Quyền tự do bày tỏ tôn giáo, tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức của công chúng hoặc những quyền tự do cơ bản của người khác.”

Trên cơ sở Công ước quốc tế và điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội lịch sử truyền thống của mỗi quốc gia, các nước trên thế giới đều ban hành những quy định pháp lý về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Trên thế giới không có nơi nào tín ngưỡng, tôn giáo hoạt động theo kiểu tự do vô tổ chức mà đều có những hạn chế theo luật pháp quy định vì một nền trật tự an ninh chung, vì sức khỏe hay đạo đức cộng đồng hoặc vì sự bảo vệ các quyền và tự do của người khác.

Trong quá suốt trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong việc quản lý xã hội, điều hành đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến tôn giáo và có chính sách tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Ngay từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 sau khi Việt Nam giành được độc lập đã nêu rõ: “Mọi công dân có quyền tự do tín ngưỡng”. Sau khi đất nước thống nhất, Hiến pháp năm 1980 đã ghi: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 80). Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 70). Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 (Chương II) của Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Đặc biệt, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 ra đời đã chứng tỏ Nhà nước Việt Nam rất quan tâm và quyết tâm phấn đấu đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.

Có thể khẳng định rằng pháp luật Việt Nam hiện nay hoàn toàn phù hợp với những chuẩn mực quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này. Thực tế cho thấy, Việt Nam đặt vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp và luật pháp đạt chuẩn quốc tế ngay từ khi có Hiến pháp đầu tiên và ngày càng được hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử.

Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Nhà nước Việt Nam không cho phép bất kỳ tôn giáo nào được đứng ngoài luật pháp, đứng ngoài dân tộc, đứng trên lợi ích quốc gia. Tại Việt Nam không bao giờ có chuyện “đàn áp tôn giáo”, “vi phạm tự do tôn giáo”. Việt Nam hiện có 16 tôn giáo, 43 tổ chức tôn giáo (thuộc 16 tôn giáo) được công nhận tư cách pháp nhân. Ở Việt Nam không có cái gọi là “nhóm tôn giáo độc lập”. Những nhóm người mà một số tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam gọi là “nhóm tôn giáo độc lập” và cho rằng bị “đàn áp” vì thực hiện quyền tự do tôn giáo, họ không thuộc các tôn giáo, tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước Việt Nam cấp phép hoạt động. Thực chất những nhóm người này đã lợi dụng, đội lốt tôn giáo để hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam. Những hành vi đó là vi phạm pháp luật Việt Nam và đương nhiên họ phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Đó là việc làm hoàn toàn chính đáng, hợp pháp nhằm bảo vệ an ninh trật tự, giữ nghiêm kỷ cương phép nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, trong đó có giáo dân.

Thực chất của buổi “Hội luận…” như đã nói không nhằm mục đích gì khác là tiếp tục tạo cơ hội cho các tổ chức, cá nhân thù địch xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo về tự do tôn giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Những thông tin, tài liệu từ buổi “Hội luận…” mà RFA cùng một vài trang mạng xã hội phát tán về tự do tôn giáo ở Việt Nam là bịa đặt và trắng trợn xuyên tạc sự thật. Thực tế đời sống tôn giáo ở Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái phát đi từ buổi “Hội luận…”./.

Trang sử mới: Trang sử của độc lập - tự do!

Hàng năm, nhân dân Việt Nam đều tưng bùng tổ chức chào mừng thành công của Cách mạng Tháng Tám năm và Ngày Quốc khánh 02/9 – Ngày độc lập. Trong khi đó, những phần tử cơ hội, phản động, thù địch lại ra sức xuyên tạc, phủ nhận thành quả của cuộc Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945. Chúng cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1954 không đem lại nền độc lập, dân chủ, tự do cho dân tộc và nhân dân Việt Nam (!) Cần khẳng định ngay rằng, đây là luận điệu xuyên tạc, hòng phủ nhận giá trị vĩ đại về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tam và Ngày Độc lập của dân tộc ta!



Lịch sử đã ghi nhận, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của đường lối, phương pháp lãnh đạo thực hiện “Ba cuộc giải phóng” – Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, và giải phóng con người của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã đập tan chế độ thuộc địa, nửa phong kiến thối nát, phản động, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một Nhà nước mà mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Từ đây, đất nước ta độc lập, tự do và dân chủ, nhân dân ta trở thành người làm chủ, tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Ngày 02/9,thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc Lập. Trong đó, nói rõ: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Và tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự đã thành một nước tự do, độc lập”; khẳng định:“Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” – Lời thề Độc lập của dân tộc Việt Nam. Ngày 02/9/1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời và đó là Ngày Quốc khánh – Ngày Độc lập của dân tộc Việt Nam – Ngày dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Ngay sau khi giành được độc lập, đất nước lâm tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”. Thực hiện lời thề Độc lập, cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đoàn kết đứng lên thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế chống thực dân Pháp xâm lược, diệt “giặc dốt”, “giặc đói”. Ngày 07/5/1954, dân tộc ta đã làm nên Chiến thắng Điện Biên phủ vĩ đại– “Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” – đánh bại ý chí xâm lược, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, giải phóng miền Bắc, đưa miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhưng đất nước chưa trọn niềm vui Độc lập.

Đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam, hòng biến miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” cả nước ta lại ra trận thực hiện quyết tâm “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” để “Nam – Bắc sum họp một nhà”, thống nhất đất nước. Trải qua 21 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đánh bại hàng loạt chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng 30/4/1975 vĩ đại, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Khát vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc đã trở thành hiện thực! Đất nước Việt Nam độc lập, tự do, thống nhất, bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đất nước độc lập thống nhất, nhưng bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, các thế lực đế quốc, phản động quốc tế tiến hành bao vậy, cấm vận ngặt nghèo, tiến hành chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc; nền sản xuất lạc hậu, yếu kém, đời sống của nhân dân gặp vô vàn khó khăn. Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện khát vọng độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, cả dân tộc Việt Nam đã đoàn kết một lòng phá vòng vây cấm vận, chiến đấu bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, đập tan tập đoàn diệt chủng Pôn-Pốt, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả với nước bạn Cam-pu-chia. Đồng thời  tiến hành  công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và giành những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Sau 78 năm (1945 – 2023) thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, giành được độc lập, cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế chưa bao giờ có như ngày hôm nay.

Việt Nam, từ một đất nước bị chia cắt, nhân dân chịu sự đô hộ của các thế lực thực dân, đế quốc đã giành được độc lập, có chủ quyền lãnh thổ thống nhất; có nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tự quyết định con đường phát triển theo mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động – là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Mọi quyền lực Nhà nước Việt Nam đều thuộc về nhân dân, thực hành quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tao sức mạnh “dời non, lấp biển” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng, đoàn kết, bảo vệ chế độ, thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước.

Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế phụ thuộc, hành chính, bao cấp, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển có thu nhập trung bình. 6 tháng đầu, năm 2023, mặc dù kinh tế thế giới suy thoái, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn giảm, bị ảnh hưởng tieu cực của thiên tai, bất ổn của địa chính trị khu vực và thế giới, của đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 3,72% – vào mức cao ở khu vực và thế giới; quy mô GDP Việt Nam đạt khoảng 4.741 nghìn tỷ đồng, trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam được các tổ chức quốc tế lớn, uy tín trên thế giới đánh giá là nền kinh tế năng động, sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả, là điểm đến về FDI của các quốc gia, tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới.

Nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không ngừng được củng cố, phát triển, thực sự là nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ Tổ quốc. Đến năm 2020, Chỉ số phát triển con người (HDI) Việt Nam đạt 0,704, thuộc nhóm cao trên thế giới. Nhiều phong trào, cuộc vận động văn hóa được tổ chức có sức lan toả sâu rộng trong đời sống, tạo môi trường văn hóa, bảo vệ, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”,… Việt Nam đã trở thành “Đất nước của những di sản”, với những con người nhân văn, cần cù, thông minh, sáng tạo, hiện đại, thân thiện, là điểm đến của bạn bè quốc tế. Văn hoá thực sự “soi đường cho quốc dân”, nguồn lực nội sinh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đời sống xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao. Việt Nam được Liên hiệp quốc là nước thực hiện tốt các Mục tiêu thiên niên kỷ, nhất là xoá đói nghèo, kiểm soát và ngăn ngừa được dịch bệnh nguy hiểm và đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, v.v. Chất lượng giáo dục và đào tạo của Việt Nam ngày càng được nâng lên. Giáo dục mầm non được đổi mới và phát triển cả 05 lĩnh vực: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và kỹ năng xã hội, thẩm mỹ. Giáo dục phổ thông trở thành tâm điểm nghiên cứu của thế giới. Giáo dục hướng nghiệp được đổi mới về nội dung, đa dạng hóa hình thức,… đảm bảo thiết thực. Giáo dục mũi nhọn được chú trọng và đạt kết quả tốt. Giáo dục đại học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đã góp phần quan trọng vào phát triển bền vững của đất nước, v.v. Lĩnh vực quốc phòng – an ninh và lực lượng vũ trang được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Nhiệm vụ xây dựng quốc phòng, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân được coi trọng bằng sức mạnh toàn dân, của mọi nguồn lực. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, thể chế chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống.

Việt Nam đã thực hiện hiệu quả phương châm và định hướng “Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đến nay, Việt Nam là thành viên tích cực, trách nhiệm cao của 63 tổ chức quốc tế, nhất là của Liên hợp quốc, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), v.v. Việt Nam có quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó đã ký Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với 60 nền kinh tế, đối tác chiến lược và toàn diện với 30 nước, trong đó có 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các nước nhóm G7 và G20, v.v. Việt Nam đã được bầu làm Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009 và nhiệm kỳ 2020 – 2021 với số phiếu cao, rất cao. Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn hoàn thành tốt vai trò là Chủ tịch ASEAN; có nhiều sáng kiến hữu ích thực hiện “nhiệm vụ kép” – vừa phòng chống Đại dịch Covid-19, vừa phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội có hiệu quả – được các nước trong khu vực, thế giới đánh giá là hình mẫu trong phòng chống thảm hoạ dịch bệnh, v.v.

Đến nay, Việt Nam đã thực sự “rũ bùn đứng dậy sáng loà”. Với người dân Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám, Ngày Quốc khánh 02/9 – Ngày Độc lập – đời đời bất diệt, thể hiện khát vọng, nguồn động lực để nhân dân Việt Nam phấn đấu vì hòa bình, độc lập, tự do, vươn lên dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh. Đó cũng là động lực cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu đến năm 2030 sẽ trở thành nước đang phát triển có nền công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 – Kỷ niệm 100 năm Ngày Độc lập – sẽ trở thành nước phát triển, thu nhập cao.