Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

Lương công nhân và thói công kích chế độ

             


            Sáng nay vào mạng xã hội đọc được bài viết: “Lương và đội tiên phong của giai cấp công nhân” của Trân Văn tôi thấy bức xúc với những thông tin xiên xẹo của kẻ cầm bút này. Thực ra cũng không có gì lạ vì Trân Văn là một cây bút có thâm niên, một Bloger của VOA chuyên viết bài phân tích, bình luận về kinh tế-xã hội và chính trị của Việt Nam nhưng với góc nhìn hạn hẹp, u tối, chuyên móc máy, suy diễn theo chủ đích cá nhân nhằm xuyên tạc, bịa đặt rồi đăng tải trên các trang mạng phản động. Trong bài viết này Trân Văn so sánh một cách khập khiễng giữa Việt Nam và Hàn Quốc về tăng lương tối thiểu và thu nhập của người lao động: “Nói cách khác, cũng phải đi làm nhưng thu nhập của công nhân Việt Nam thua xa người lao động Nam Hàn. Khi thu nhập thấp hơn từ 7 lần đến 11 lần thì mức sống tất nhiên phải kém hơn và cứ nhìn vào thực tế thì sẽ thấy công nhân Việt Nam thê thảm thế nào”. Trân Văn cóp nhặt rồi bịa đặt những thông tin về kinh tế Viêt Nam mà không chịu cập nhật một thực tế là: “Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong năm 2021 là hơn 362,6 tỷ USD đứng thứ 39 trong số 207 nền kinh tế toàn cầu. Nếu tính theo PPP, GDP Việt Nam đứng thứ 25 trong số 195 nước và vùng lãnh thổ. Thu nhập quốc dân (GNI) trên đầu người của Việt Nam 3.560 USD, đứng thứ 7 trong 11 nước Đông Nam Á và thứ 130 trên 195 nước và vùng lãnh thổ. Trong khi đó, Hàn Quốc đứng thứ 32. Hàn Quốc là một nước phát triển có thu nhập cao, sánh ngang với các quốc gia trong OECD và G20. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Hàn Quốc trong năm 2021 là 1,824 nghìn tỷ USD; GDP đầu người của Hàn Quốc là 35.196 USD”. Do đó, mức sống của công nhân Việt Nam thấp hơn Hàn Quốc là lẽ đương nhiên, nhưng Trân Văn cũng cần phải quan tâm đến vấn đề chi tiêu hàng ngày với giá cả sinh hoạt rất khác nhau của công nhân hai nước, tại Hàn Quốc giá cả sinh hoạt hàng ngày rất cao so với Việt Nam.

Thâm độc, mỉa mai, chơi chữ, đánh tráo khái niệm, Trân Văn viện dẫn rất đểu cáng rằng: “Chuyện “đội tiên phong của giai cấp công nhân” chọn con đường biến công nhân thành hàng hóa để… “xuất khẩu”, xác định việc đi làm thuê ở những nơi như Nam Hàn là cơ hội rộng mở cho cá nhân lẫn quốc gia dân tộc là… “vĩ diệu”!” để cho rằng “Đảng cộng sản Việt Nam chọn con đường biến công nhân thành hàng hóa để xuất khẩu.”. Trân Văn cần biết rằng, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là chủ trương đúng đắn. Hàn Quốc là quốc gia có nền kinh tế phát triển thu nhập cao nhưng đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lao động đặc biệt là lao động phổ thông, Trong khi đó Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển và dồi dào nhân lực lao động phổ thông. Đặc biệt là Hàn Quốc có nét văn hóa tương đồng với Việt Nam, có chế độ phúc lợi trong quá trình làm việc thuộc loại tốt, cao hơn ở Việt Nam rất nhiều. Mặt khác, Việt Nam đã có 30 năm hợp tác kinh tế và xã hội với Hàn Quốc và hiện tại Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Hàn Quốc, nên vấn đề mở cửa hội nhập quốc tế nói chung và đối với Hàn Quốc nói riêng là cơ hội để tìm việc làm tốt hơn cho những lao động trẻ, thu nhập thấp. Chương trình Xuất khẩu lao động Hàn Quốc EPS được Bộ Lao động Hàn Quốc giao cho cơ quan phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc (HRD) thực hiện. Việt Nam, Bộ LĐ-TB&XH giao cho Trung tâm lao động ngoài nước (COLAB) thực hiện. Không có một tổ chức, cá nhân hoặc công ty nào khác được cấp phép làm. Việt Nam XKLĐ sang Hàn Quốc và các quốc gia khác trên thế giới đã trở thành một lĩnh vực kinh tế quan trọng, không chỉ đem lại thu nhập cao cho người lao động, thu nhập ngoại tệ về cho đất nước mà còn là thay đổi được nhận thức, tư duy, kỹ năng làm việc của người lao động. Nhiều người lao động từ Hàn Quốc hết hạn hợp đồng trở về nước, với số vốn hiện có cộng với những kinh nghiệm tích lũy được đã giàu lên, đóng góp lợi ích kinh tế cho gia đình và cộng đồng.

Vấn đề cải cách chính sách tiền lương là một trong những vấn đề cấp bách của Việt Nam. Vừa qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xem xét một số chính sách tiền lương, giải quyết vấn đề thu nhập cho cán bộ công chức, viên chức và người lao động. Việc tăng lương tối thiểu cần căn cứ nhu cầu sống, điều kiện kinh tế xã hội và mặt bằng tiền công trên thị trường. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và lần đầu tiên Việt Nam có tiền lương tối thiểu giờ được áp dụng từ ngày 1/7/2022. Mức lương tối thiểu đã tăng bình quân 6% so với mức lương tối thiểu hiện hành. Trong nền kinh tế thị trường, mức lương tối thiểu được xem xét trong mối quan hệ với việc làm, là mức lương thấp nhất trả cho người làm công ăn lương, làm công việc đơn giản trong điều kiện lao động bình thường mà không người sử dụng lao động nào có thể trả thấp hơn. Tất nhiên, mức lương tối thiểu không bao gồm các khoản tiền thưởng hoặc phúc lợi xã hội, không phải trợ cấp xã hội, được tính theo thời gian tham gia làm việc. Cần phân biệt với mức lương thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người đại diện cho người lao động.

Trân Văn lại nhai đi nhai lại luận điểm cũ rích từ những thập niên về trước để phủ nhận sạch trơn mọi cố gắng của Đảng và Nhà nước về cải cách chính sách tiền lương, Y mỉa mai, châm biếm cho rằng: “Lương tối thiểu không đủ để đảm bảo mức sống tối thiểu” là vấn nạn kinh niên ở Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Thực tiễn cho thấy đa phần các doanh nghiệp đã trả lương cao hơn lương tối thiểu vùng, mức mà lương tối thiểu vùng là căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; là cơ sở thấp nhất để các bên đàm phán thương lượng mức lương thực tế. Nhưng Trân Văn tưởng tượng rồi vẽ nên một bức tranh u tối về về thu nhập và đời sống của công nhân lao động và trích dẫn, cắt xén để viết theo ý đồ đen tối của mình, tự đưa ra nhận xét: “Ai cũng biết, cũng thấy công nhân đói, khổ thế nào và mức độ đói khổ của giai cấp công nhân ngày càng trầm trọng hơn, nhưng công nhân vẫn không đủ sống, tiếp tục được công nhận là bài toán không có lời giải, rồi…thôi”. Ông Vũ Minh Tiến, Viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết qua khảo sát, khoảng 30% công nhân lao động có thu nhập thấp, luôn khó khăn, túng thiếu. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam qua khảo sát tình hình lao động, tiền lương, thu nhập và chi tiêu hàng ngày của công nhân, lao động Việt Nam cho biết 12% người lao động phải thường xuyên đi vay tiền để chi tiêu; 35,5% thỉnh thoảng đi vay tiền để chi tiêu (3 đến 4 tháng/ 1 lần); 34,8% phải đi vay tiền để chi tiêu 1 năm/1 lần. Đảng và Nhà nước đã liên tục điều chỉnh và có cả lộ trình cải cách chính sách tiền lương để nâng cao đời sống cho công nhân lao động và cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và. Nhà nước sẽ giảm dần sự can thiệp hành chính, quản lý tiền lương thông qua quy định mức lương tối thiểu vùng là mức sàn thấp nhất để bảo vệ người lao động yếu thế. Với những nỗ lực của cả hệ thống chính trị, quá trình cải cách chính sách tiền lương đã đạt được những kết quả tích cực, tất nhiên vẫn còn những bất cập hạn chế cần phải tiếp tục điều chỉnh để dần phù hợp với yêu cầu hơn.

Việc cải cách chính sách tiền lương liên quan đến nhiều cơ chế, chính sách, ảnh hưởng đến nhiều tầng lớp nhân dân, các đối tượng trong xã hội, nên cần có sự đồng thuận rất cao, quyết tâm chính trị rất lớn song vẫn cần có thời gian để phát huy hiệu quả không thể một sớm, một chiều. Người dân cần phải đề cao cảnh giác, trước những luận điểm sai trái, cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch phản động nhằm chống phá lại mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong đó có vấn đề xuất khẩu lao động và cải cách chính sách tiền lương, mà điển hình là Trân Văn cùng đồng bọn đang cố tình chọc ngoáy, rêu rao, công kích, đả phá, tung tin loan tải trên những trang mạng phản động hoặc các đài báo phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam.

 

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

Ông Phil Robrtson chớ phát biểu hồ đồ



Phiên toà phúc thẩm Phạm Đoan Trang, với tội danh “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự 1999 vừa khép lại. Sẽ chẳng có gì đáng bàn nếu không có chuyện một số trang mạng ở nước ngoài lại tiếp tục đăng phát tin bài bóp méo, xuyên tạc, đánh tráo khái niệm làm sai lệch bản chất vụ án nhằm chống phá Việt Nam. Đáng lưu ý trên BBC, ông Phil Robertson, Phó giám đốc khu vực châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng: “Phạm Đoan Trang đã trở thành mục tiêu cho sự đàn áp của chính phủ Việt Nam khi lên tiếng chống lại bất công, vạch trần các vi phạm nhân quyền, và hỗ trợ các tù nhân chính trị và gia đình họ. Giới chức Việt Nam nên chấm dứt những hành vi lạm dụng này bằng cách hủy bỏ kết án và ra lệnh trả tự do cho bà.”

Cần phải khẳng định ngay rằng những phát biểu trên là hồ đồ, vô căn cứ, xuyên tạc sự thật và phần nào đã chứng tỏ sự thiếu hiểu biết của ông Phil Robertson về tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.

Trên bình diện thế giới, chúng ta cần phải thấy trong các văn kiện quan trọng nhất về quyền con người, trong đó có “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị” năm 1966, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong các quyền cơ bản của con người và được quy định rất rõ ràng, cụ thể. Tuy nhiên, cũng theo các văn kiện ấy, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí không phải là tuyệt đối mà là một quyền bị hạn chế. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 ghi: Theo Khoản 3, Điều 19 “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này (quy định về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Theo đó, cũng các quyền cơ bản khác, việc hưởng thụ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí có thể phải chịu một số hạn chế nhất định để tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội (những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật). Điều này cũng có nghĩa khi thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, công dân phải tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ nhà nước và không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác.

Trên cơ sở các văn kiện về quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của quốc tế và điều kiện cụ thể của đất nước, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí tại Việt Nam được quy định rất rõ ràng, vừa tương thích với các văn kiện quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và thực tế Việt Nam. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam được quy định trong Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Cùng với đó việc thực hiện các quyền này còn được quy định trong nhiều đạo luật quan trọng như: Luật Báo chí, Luật An ninh mạng…

Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam việc thực hiện các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí không phải là vô tổ chức, vô hạn độ mà phải trong khuôn khổ của pháp luật.

Đối tượng Phạm Đoan Trang không còn là xa lạ với nhiều người. Theo cáo trạng của Viện KSND, từ ngày 16/11/2017 – 5/12/2018, bị cáo đã có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phạm Đoan Trang đã nhiều lần trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, cũng như “phỉ báng chính quyền nhân dân”. Cụ thể, Phạm Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu như: “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; “Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam”. Cơ quan tố tụng xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền “luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quá trình làm việc với cơ quan chức năng ngày 16-11-2017, bị cáo xác nhận mình là tác giả của “Báo cáo – nghiên cứu đánh giá luật tín ngưỡng, tôn giáo”. Phạm Đoan Trang cùng nhóm tác giả viết báo cáo này bằng tiếng Anh, sau đó dịch ra tiếng Việt và đăng tải trên trang điện tử do mình lập nên… Ngoài ra, theo Viện KSND tối cao, Phạm Thị Đoan Trang còn có những phát ngôn tuyên truyền các nội dung thông tin xuyên tạc đường lối chính sách của Nhà nước khi trả lời phỏng vấn một số đài nước ngoài… Hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của Phạm Thị Đoan Trang là rất rõ, thế nhưng trước tòa bị cáo vẫn cố tình chối tội, kêu oan.

“Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, luật pháp Việt Nam rất nghiêm khắc với những ai cố tình vi phạm mà không biết ăn năn, hối lỗi. Nhưng pháp luật Việt Nam cũng bao dung, độ lượng, nhân văn với những ai biết nhận ra lỗi lầm mà ăn năn sám hối. Đằng này với Phạm Thị Đoan Trang – một người có nhận thức, hiểu rõ hành động mình làm nhưng trước các phiên tòa vẫn quanh co chối tội và có thái độ chống đối thì không có căn cứ nào để giảm nhẹ hình phạt. Trên cơ sở xét hỏi công khai tại phiên phúc thẩm, căn cứ lời khai, tài liệu, kết quả giám định, Tòa phúc thẩm nhận định, đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang.

Việc Tòa phúc thẩm giữ nguyên bản án tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là đúng người, đúng tội, không oan, hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội. Vụ án được xét xử công khai, hoàn toàn không có gì “mập mờ” hay “tuỳ tiện” như những gì mà ông ông Phil Robertson và một số cá nhân, tổ chức thù địch rêu rao.

Những luận điệu mà ông Phil Robertson và một số cá nhân, tổ chức thù địch với Việt Nam tung ra không nhằm âm mưu gì khác là bóp méo, xuyên tạc bản chất vụ án, cổ súy, kích động cho hành vi vi phạm pháp luật của Phạm Đoan Trang và các đối tượng chống đối khác. Đồng thời, ông Phil Robertson và cái gọi là Tổ chức Theo dõi nhân quyền lấy vụ án này làm cái cớ để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp những người “bất đồng chính kiến”, những người “hoạt động nhân quyền”, gây sức ép, bôi nhọ uy tín, hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, từ đó can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Nhưng tất cả những luận điệu, chiêu trò đó chỉ là vô vọng bởi pháp luật Việt Nam rất công bằng, rõ ràng, minh bạch. Với quan điểm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, “ai làm người đó chịu”, Việt Nam chỉ xét xử và áp dụng hình phạt với người vi phạm chứ không có chuyện Phạm Thị Đoan Trang “trở thành mục tiêu cho sự đàn áp của chính phủ Việt Nam khi lên tiếng chống lại bất công, vạch trần các vi phạm nhân quyền và hỗ trợ các tù nhân chính trị và gia đình họ…”. Luận điệu kêu gọi “hủy bỏ kết án và ra lệnh trả tự do” cho Phạm Thị Đoan Trang của ông Phil Robertson là việc làm vô lối vi phạm công ước, nguyên tắc quan hệ quốc tế và trái pháp luật Việt Nam. Với tư cách là Phó giám đốc phụ trách Châu Á của Tổ chức Theo dõi nhân quyền chẳng lẽ ông Phil Robertson hiểu rõ điều đó. Hiểu rõ là sai mà vẫn cố làm là hành động vô lối, không thể chấp nhận./.

                                                                                                                             Quốc An

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2022

Thư ngỏ gửi ông Mạc Văn Trang


Nhân đọc bài viết “Bịa đặt đê hèn và ác độc” trên mạng xã hội của nguyên Phó Giáo sư tiến sỹ Mạc Văn Trang, nay “chuyển ngành” hành nghề xuyên tạc, bịa đặt chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân mình… tự nhiên thấy câu chuyện “gái đĩ già mồm” vẫn còn nguyên giá trị (theo từ điển tiếng Việt thì: Đã xấu xa lại còn làm ầm ĩ lên để lấp liếm đi).

Ở bài viết, ông Trang kể rằng ông bị đám “cặn bã” dám bịa chuyện viết bài để nói xấu ông về hai chuyện: “Mạc Văn Trang mà về giỗ Tổ bị cả họ đuổi ra khỏi họ” và bài viết “Hiến pháp là tài liệu phản động” của ông cũng “bị họ tha hồ xỉ vả, bôi nhọ bằng những lời lẽ khốn nạn nhất”. Chưa biết thực hư việc họ “đánh” ông có oan không, nhưng thấy một người già như ông bị mắng chửi, nên cũng có lời chia sẻ cùng ông. Cũng nhân đây kính xin cụ Tam nguyên Yên đổ Nguyễn Khuyến cho phỏng bài thơ của Cụ có tựa đề “Hỏi thăm quan Tuần mất cắp” để gửi tặng ông Mạc Văn Trang nhân việc ông vừa bị họ “đánh”:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông

Nó lại lôi ông đến giữa đồng

Lấy của, đánh người quân tệ nhỉ!

Thân già da cóc, có đau không?

Bây giờ mới khẽ sầy da trán

Ngày trước đi đâu mất mảy lông

Thôi cũng đừng nên “xiên xỏ” nữa

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

Thành thực mà nói, việc ông có bị dòng họ Mạc nhà ông đuổi ra khỏi họ hay không thì ít ai biết, chỉ có những kẻ “chửi” ông và hôm nay nghe ông kể lại thôi. Nếu chưa phải thế thì còn may phúc tổ cho ông, chúc mừng ông! Còn việc bài viết “Hiến pháp là tài liệu phản động” mà chính ông viết rằng: “Bị cái đám cặn bã tha hồ xỉ vả, bôi nhọ bằng những lời lẽ khốn nạn nhất” thì không oan đâu, có chăng là cách nói, nhưng họ nói quá lên nên ông mới phải giãy lên như “đỉa phải vôi” thôi. Vì ông thừa biết, nhóm “hiến pháp” hay “tặng quyển Hiến pháp” để “bảo vệ Hiến pháp” cũng chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài để các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước (đám cùng hội cùng thuyền với ông) thông qua việc tung tin thất thiệt để tuyên truyền, xuyên tạc những quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để chuyên bày trò gây rối, làm, phát tán, xuyên tạc, phỉ báng chế độ, gây hoang mang dư luận, gây rối trật tự xã hội… Những đối tượng mà ông tung hô, cổ súy như Dũng Vova, Lê Trọng Hùng… đều đã vào tù vì những hành vi vi phạm pháp luật này. Là người lớn tuổi, có học hẳn hoi nhưng chỉ vì những động cơ đen tối, mù quáng mà ông không từ những thủ đoạn đánh lận con đen, nhập nhèm bản chất sự việc để xuyên tạc, không ai nhầm đâu ông Trang ạ. Ông không việc gì phải giãy lên đành đạch như thế, bởi trong bài viết của ông thì ông mới chỉ nêu hai ví dụ về việc ông “bị oan, bị chửi”, thực tế những năm qua còn nhiều hơn thế nữa đấy ông ạ. Kể thêm hộ ông vài ví dụ nữa nhé!

Khi Việt Nam chống dịch Covid-19 đạt được nhiều thành tựu, thay vì cổ vũ, động viên nhà nước và người dân thì ông Trang lại đặt một câu hỏi rất mách qué, xếch mé: “Việt Nam chống đại dịch Covid-19 thành công, thế giới ngạc nhiên, khâm phục nhưng họ “không học tập và làm theo được”, tại sao nhỉ?”. Chắc ông Trang cũng biết, chống đại dịch Covid-19 là một cuộc chiến chưa có tiền lệ. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, kinh tế chưa phải đã dư dả, dân số đông lại gần nơi phát sinh dịch bệnh nên việc khống chế được dịch, giảm thiểu hy sinh mất mát là điều đáng trân trọng. Hơn nữa “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” nên có nhiều việc không phải ai học ai. Nói và làm những điều tử tế trong lúc khó khăn chung mới là điều bình thường của những con người bình thường, không biết với cách đặt vấn đề thô bỉ của ông thì ông có đáng được xem là người bình thường không, hay ông chỉ đáng được so với lũ “ba que, xỏ lá”?

Ông Mạc Văn Trang cho rằng: “Vụ án Đồng Tâm là một tội ác” ư? Xin ông nhớ cho và nói đúng bản chất sự việc nhé, vụ Đồng Tâm từ lâu đã trở thành cái ung nhọt bốc mùi hôi thối, thu hút đủ thứ giòi bọ, nhặng xanh lao vào đục khoét với âm mưu biến nó thành một khối u lớn để định quật đổ cả đất nước này. Có điều là ông lại nằm chính trong cái ung nhọt đó nên không thấy “thối” đó thôi. Một cơ thể có ung nhọt thì phải cắt bỏ, chữa lành để cơ thể khỏe mạnh. Đó là việc làm tất yếu, khi cắt rồi thì lũ ruồi xanh, giòi bọ không còn chỗ để đục khoét, liếm láp, tất nhiên chúng làm ầm lên để tìm kiếm và tiếc nuối cũng là chuyện thường tình. Đất nước nào cũng phải có kỷ cương phép nước. Cứ bảo “Mỹ tự do nhất thế giới”, ông Trang và những đám bạn “dân chủ” của ông thử sang Mỹ mà sống, rồi “rào làng kháng chiến” và đặt căn cứ ngay trong lòng nước Mỹ xem họ có để cho ông yên không?

Những phát ngôn của ông bấy lâu nay như: “Vụ án Hồ Duy Hải làm sụp niềm tin công lý”; “lũ lụt miền Trung, hiện tượng Thủy Tiên chỉ trong mấy tuần quyên góp được 170 tỷ đồng cứu trợ đồng bào… nhiều tổ chức nhà nước muốn dẹp”; “Vụ Thủ Thiêm càng thấy, chính quyền đã cố tình vùi dập nỗi oan ức của hàng ngàn người dân… nhưng không giải quyết không xong”; “những người đấu tranh cho dân chủ bị đàn áp, bắt bớ, kết án nặng nề”, rồi là “Sắp Đại hội Đảng XIII của Đảng CSVN mà dân ít quan tâm, trong khi theo dõi bầu cử Mỹ rất sát sao… và cho rằng điều đó thật thú vị”… có nên được phát ra từ miệng một kẻ là Phó Giáo sư, tiến sỹ từng được Đảng, nhà nước cho ăn họcc, trọng dụng không hả ông Mạc Văn Trang? Thiết nghĩ, ai đó họ phê, họ chửi ông cũng không hề “hàm oan” đâu! Rõ ràng ông là kẻ “ăn cháo đá bát”, điển hình của loại người vô ơn.

Nhưng để tạo ra sự phẫn nộ tột cùng của người dân Việt đối với ông Mạc Văn Trang có lẽ là dòng trạng thái so sánh Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị cha già của dân tộc Việt Nam với con nặc nô Phạm Thị Đoan Trang: “Nguyễn Ái Quốc chống Pháp khét tiếng, tòa án Hồng Kông xét xử, luật sư Loseby cãi ông vô tội. Phạm Đoan Trang tại sao không vô tội”. Không ai có thể nghĩ đây là những lời lẽ được phát ngôn bởi một ông lão ngoài 80 tuổi lại có học thức cao như ông Mạc Văn Trang. Những tưởng với trình độ, với sự chín chắn từng trải của mình, ông phải hiểu công lao trời biển của Cụ Hồ với dân tộc Việt Nam- vị anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, nhà tư tưởng, nhà chính trị được cả thế giới yêu mến, nể phục, được các thế hệ người dân Việt Nam tôn thờ như lãnh tụ vĩ đại, cha già dân tộc. Xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh là xúc phạm đến lương tri thời đại, xúc phạm đến triệu triệu trái tim Việt Nam, ông có biết không? Việc đánh đồng vị lãnh tụ suốt đời đấu tranh đòi quyền tự do, độc lập dân tộc với một kẻ lợi dụng quyền tự do để chống phá đất nước, vi phạm pháp luật và phản động cực đoan của Mạc Văn Trang là không thể chấp nhận, không thể tha thứ được. Không rõ lý do gì mà dòng họ Mạc chưa đuổi ông ra khỏi họ, chính quyền chưa tống khứ ông ra khỏi đất nước này, nhưng những người Việt Nam chân chính và yêu nước mình thì không thể dung thứ ông. Không chỉ hôm nay đâu, ông sẽ mãi bị nguyền rủa như một đứa con lạc loài, bất hiếu của dân tộc! 

 

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2022

Nước Nga Hài hước




Phát biểu tại Diễn đàn liên vùng của Mặt trận nhân dân toàn Nga, tổng thống Putin cho biết ông vẫn giữ thẻ đảng viên Đảng cộng sản Liên Xô.

Tổng thống Nga Putin nhắc lại ông đã nhiều năm không những là đảng viên Đảng cộng sản Liên Xô, mà còn làm việc trong Uỷ ban an ninh quốc gia KGB, cơ quan bảo vệ Đảng. Ông cũng không phải là quan chức trong bộ máy, mà chỉ là một đảng viên thuần túy.

Ông Putin khẳng định đến giờ, thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô ông vẫn giữ. “Khác với nhiều quan chức, tôi không bỏ thẻ đảng, hay là đốt cháy nó”.

Vị lãnh đạo nước Nga thừa nhận, ông “thích, và cho đến nay vẫn rất thích những tư tưởng cộng sản, tư tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Theo ông, Bộ quy chuẩn đạo đức của người xây dựng CNCS của Liên Xô có những tư tưởng khá giống với Kinh thánh, nhưng việc thực hiện những ý tưởng tuyệt vời đó tại Liên Xô trước đây vẫn còn khá xa với thực tế.

Tổng thống Putin, khi phê phán chính sách kinh tế của Liên Xô, cũng thừa nhận chính nền kinh tế kế hoạch đó đã tập trung được nguồn lực và giải quyết được các vấn đề y tế, giáo dục và quốc phòng.

Theo ông chủ Điện Kremlin, ngày nay khi nhìn nhận, đánh giá quá khứ, không được bôi đen, cũng như không nên tô hồng hiện tại. “Cần phải phân tích tập trung, khách quan để trong tương lai, chúng ta không phạm phải những sai lầm của quá khứ”.

 


Thứ Năm, 1 tháng 9, 2022

Luận điệu phản động về Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945)



            Nhân dịp kỷ niệm 77 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, bọn phản động lại thi nhau tuyên truyền chống phá, hòng xuyên tạc, bôi nhọ ngày lễ trọng đại của dân tộc Việt Nam, trong đó nổi lên một số cái loa bốc mùi của Việt Tân, Thời báo, RFA…Đáng lưu ý là trên kênh truyền thông của Nguyễn Văn Đài có bài viết phủ nhận vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, xóa bỏ ý nghĩa lịch sử của bản Tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh soạn thảo và trịnh trọng tuyên bố với thế giới và quốc dân đồng bào về quyền độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Láo xược nhất là chúng trương lên khẩu hiệu “Tuyên ngôn độc lập hay bản án chế độ CSVN”.

1.Bọn phản động cho rằng, Việt Nam đã có “Nam quốc sơn hà” là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên và chính danh, nên không cần phải có thêm bất kỳ một bản Tuyên ngôn nào nữa. Đây vẫn là luận điệu xuyên tạc từ bấy lâu nay, qua đó càng chứng tỏ bọn tuyên truyền phản động cố ý đánh đổ vai trò của Hồ Chí Minh trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, đồng thời xóa trắng ý nghĩa của Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Cả 2 điểm này có mối liên hệ mật thiết, biện chứng với nhau. Nếu không có vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trực tiếp và đứng đầu là Hồ Chí Minh thì chắc chắn không thể có thắng lợi của Cách mạng tháng 8 năm 1945. Đảng ta, đứng đầu là Hồ Chí Minh, với tầm nhìn chiến lược, đã chỉ ra con đường giành độc lập dân tộc là tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ theo định hướng cách mạng vô sản, do chính đảng vô sản lãnh đạo, do quần chúng nhân dân yêu nước, có tinh thần dân tộc, dân chủ, có lòng yêu nước, thương nòi là lực lượng cách mạng. Đảng ta đã tập hợp lực lượng, giác ngộ cách mạng, làm cho quần chúng đi theo cách mạng ngày càng đông, ngày càng có tinh thần tự giác cách mạng, tạo thành làn sóng cách mạng vô cùng mạnh mẽ, đủ sức vùng lên khi thời cơ ngàn năm có một tới, đủ sức cuốn phăng bè lũ cướp nước và bán nước, giành chính quyền về tay nhân dân. Đỉnh cao của Cách mạng tháng 8 năm 1945 là chính quyền cách mạng kịp thời tổ chức Lễ Tuyên ngôn độc lập, bảo đảm tính hợp pháp lịch sử, được lòng dân xác nhận. Nếu như chậm trễ Tuyên ngôn độc lập thì ắt là chính quyền cách mạng sẽ bị bọn phản động dưới danh nghĩa Đồng minh nẫng tay trên. Lễ Tuyên ngôn độc lập hừng hực khí thế lịch sử thực sự là vũ khí tinh thần, là đòn điểm huyệt đối với thù trong giặc ngoài, khiến chúng phải dè chừng và khiếp sợ trước sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trước tinh thần dời non lấp biển của khát vọng độc lập, tự do của toàn thể nhân dân Việt Nam. Việc Hồ Chí Minh viện dẫn một vài câu mở đầu Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ, của nước Pháp thực sự là một tính toán hết sức nhạy cảm chính trị của Hồ Chí Minh, vì rằng, những câu bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập của hai cuộc cách mạng dân chủ Tư sản mẫu mực trên thế giới không đơn thuần là sao chép câu chữ, mà đó là sự lĩnh hội có chọn lọc giá trị văn hóa chính trị của nhân loại. Quyền tự do bình đẳng của con người, quyền độc lập và bình đẳng của dân tộc gắn liền với mưu cầu hạnh phúc, quyền sống hòa bình là những giá trị cốt lõi, phổ quát mà bất kỳ quốc gia nào, chủng tộc nào cũng đều luôn khát vọng. Chỉ có điều, nước Mỹ và nước Pháp, nước Anh đều giương cao khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái”, song lại thiết lập một nền thống trị áp bức, bóc lột trên phạm vi toàn thế giới. Nguyễn Ái Quốc gọi đó là những cuộc cách mạng xã hội chưa triệt để, là sự phản bội của giai cấp Tư sản. Như vậy, lịch sử đã diễn ra, lịch sử đã chứng minh tính tất yếu của bánh xe lịch sử là nhân loại buộc phải đánh đổ ách thống trị mà giai cấp Tư sản đã thiết lập từ thế kỷ XVIII, giờ đây kẻ nào xuyên tạc, phủ nhận thì chẳng khác nào tự bêu riếu hiểu biết lịch sử của mình trước bàn dân thiên hạ.

2.Về lịch sử các bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam, nếu xét từ góc độ phản kháng dân tộc, thì trước hết có thể kể đến lời thề của Bà Trưng Trắc “Một xin rửa sạch nước thù”(hàm ý là trước tiên phải rửa mối hận thù cho nước mình), rồi sau đó mới báo thù cho chồng. Như vậy là Bà Trưng Trắc đã tỏ rõ tầm nhìn lịch sử ngay buổi đầu chống ách đô hộ và đồng hóa dân tộc của phong kiến phương Bắc. Tiếp đến là lời thề của Bà Triệu “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, chém cá kình ở biển Đông, giành lại giang sơn cho nước Việt, chứ đâu chịu làm tì thiếp người”. Bà Triệu cũng đã đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, trước hết, tỏ rõ ý chí tự tôn, tự cường dân tộc. Đến Lý Thường Kiệt, ra đời “Nam quốc sơn hà” đã thể hiện sâu sắc hơn tinh thần tự tôn, tự cường dân tộc, với việc viện dẫn “sách trời” đã minh định núi sông, bờ cõi giữa phương Nam và phương Bắc, giữa Đại Việt với Đại Tống. Trong một nghiên cứu mới đây của Giáo sư Trịnh Nhu còn đưa ra thông tin cứ liệu cho rằng, bài “Nam quốc sơn hà” còn ra đời sớm hơn, vào thời điểm Đại Việt chống quân xâm lược Tống lần thứ nhất (năm 981). Dù chưa được kiểm định và hiệu đính, song bài “Nam quốc sơn hà” vẫn luôn luôn được giới sử học nước nhà tôn vinh là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Tới cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh, Nguyễn Trãi đã giúp Lê Lợi soạn thảo Bình Ngô đại cáo, khắc họa được tư thế tự tôn, tự chủ của Đại Việt ở thế kỷ XV. Bên cạnh “Nam quốc sơn hà” và “Bình Ngô đại cáo”, còn phải kể đến “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn và “Hịch xuất binh” của Quang Trung, đều được coi là tuyên ngôn chí khí ngút trời của một dân tộc kiên trung bất khuất trước mọi kẻ thù xâm lăng. Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là sự kế tục và phát triển chí khí tự tôn, tự cường dân tộc, kết hợp với tinh hoa lịch sử, chính trị của nhân loại, mở ra thời đại mới cho lịch sử hiện đại Việt Nam. Mỗi bản Tuyên ngôn độc lập là một cột mốc lịch sử, ra đời trong bối cảnh lịch sử cụ thể, trong đó, hạt nhân tinh thần của nó là sự trường tồn, bất diệt và huy hoàng của lịch sử dân tộc Việt Nam qua mọi thời đại. Điều đó hoàn toàn phù hợp với qui luật lịch sử, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, cũng như lịch sử nhân loại, lịch sử là những khúc quanh, có lúc tưởng như lặp lại, nhưng không phải là sự lặp lại nguyên si, càng không phải là sự sao chép văn bản của thời đại trước vào thời đại sau, mà là sự kế tục mạch nguồn lịch sử dân tộc. Vậy thì, cớ sao lại có thể phủ nhận Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh. Bởi bản Tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh soạn thảo, nhưng đó hoàn toàn không mang ý chủ quan cá nhân Hồ Chí Minh, đó là hơi thở của lịch sử và thời đại mà Hồ Chí Minh được trao truyền sứ mệnh.

Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, muôn triệu trái tim người Việt Nam yêu nước đã trào dâng niềm kiêu hãnh dân tộc. Hằng năm vào dịp Quốc khánh 2/9 được nghe lại Tuyên ngôn độc lập, lòng người dân yêu nước Việt Nam càng thêm tự hào, tự tôn dân tộc, vì rằng Hồ Chí Minh đã thay mặt đồng bào ta để tuyên bố với thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam. Từ bấy đến nay, dân tộc Việt Nam luôn trung thành với lời thề độc lập. Đó mãi là tiền đề lịch sử cho dân tộc Việt Nam nuôi dưỡng khát vọng trường tồn, tự tôn, cường thịnh trong thời đại mới.

Bất kỳ thế lực nào hòng hạ bệ vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam, hạ bệ Hồ Chí Minh, xóa bỏ ý nghĩa trọng đại của Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đều là đi ngược lại bánh xe lịch sử, ắt hẳn sẽ bị bánh xe lịch sử nghiền nát./.