Thứ Hai, 3 tháng 1, 2022

---Xây dựng, chỉnh đốn Đảng & Chống tham nhũng ---

Đúng là đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi thế giới, trong đó có Việt Nam; đã làm cho toàn thế giới có 276.436.619 trường hợp bị nhiễm Covid-19, trong đó có 5.374.744 trường hợp tử vong (số liệu của WHO, tính đến ngày 23/12/2021). Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam đã trải qua 4 làn sóng dịch và cũng đang chuẩn bị mọi tinh thần và lực lượng để đối diện với làn sóng dịch tiếp theo, trước hết là đối diện với biến thể Omicron.

Song không phải vì tập trung cho nhiệm vụ phòng và chống dịch Covid-19 mà Việt Nam “lãng quên” nhiệm vụ tăng cường đấu tranh chống tham nhũng. Lịch sử cách mạng từ khi có Đảng lãnh đạo cho thấy rằng, ở vào những điều kiện cụ thể khác nhau, công tác phòng chống các biểu hiện tiêu cực, tham ô, tham nhũng có thể đậm nhạt khác nhau, song Đảng luôn nhất quán chủ trương thường xuyên phòng và đấu tranh chống tham nhũng để xây dựng Đảng, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đảm bảo vai trò tiền phong của Đảng.


Sự thật là vậy và sự thật này bác bỏ sự xuyên tạc của JB Nguyễn Hữu Vinh khi tung lên mạng xã hội bài viết “Hơn cả Covid-19” (đăng trên RFA, Tiếng Dân New ngày 24/12/2021…).

1. Khi cả nước cùng đối diện với đại dịch Covid-19, nhất là với làn sóng dịch thứ 4, với biến thể Delta, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thể hiện rõ chủ trương vừa phòng vừa chống dịch trên tinh thần như “chống giặc”; đã cố gắng thực hiện những giải pháp vừa cấp bách vừa thường xuyên một cách quyết liệt để không chỉ từng bước ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh mà còn chăm lo đến cuộc sống thường ngày của người dân, nhất là những người dân vùng tâm dịch như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và các tỉnh phía Nam… Dù vẫn còn những hạn chế cần phải rút kinh nghiệm, song không thể phủ nhận quyết tâm và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị đối với công tác phòng và chống đại dịch Covid- 19.

Trong 2 năm qua, khi đối diện cùng đại dịch Covid-19, đâu đó có thể còn có sự lo sợ, lúng túng và hoảng loạn (nhất là trong làn sóng dịch thứ 4) vì sự diễn tiến của dịch quá nhanh, khôn lường; vì hệ thống y tế vùng tâm dịch gần như quá tải… Hơn nữa, với điều kiện cụ thể của từng địa phương, sự thiếu hụt nguồn nhân lực y tế, các thiết bị y tế chuyên dụng để điều trị Covid- 19; thậm chí cả lương thực, thực phẩm, đồ dùng thiết yếu cho đội ngũ nhân viên y tế, cho người dân… đã không còn là hiện tượng đơn lẻ. Tuy nhiên, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; sự sẻ chia, giúp đỡ của đồng bào cả nước; sự góp sức của những chiến sĩ “áo trắng” mọi miền Tổ quốc chi viện cho vùng dịch cùng sự góp sức của những người lính “bộ đội Cụ Hồ”, những người chiến sĩ công an nhân dân… thì khó khăn, bất cập ở vùng tâm dịch đã từng bước được khắc phục. Giữa muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, những gì mà người dân vùng tâm dịch nhận được (dù chưa thể đầy đủ như mong muốn) cũng đã cho thấy một hiện thực rằng, ở Việt Nam “không có ai” và đã cố gắng “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Cho nên, JB Nguyễn Hữu Vinh không thể chỉ vì nhìn thấy một vài hiện tượng mà cố tình xuyên tạc rằng “người dân không thấy được con đường sáng để có thể đi, để có thể tin tưởng”; “người dân đang lầm lũi trên con đường vô định, không lối thoát và đầy bất trắc với tính mạng, tài sản, gia đình, cộng đồng của mình” để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tổ chức, điều hành của Chính phủ trong công tác phòng và chống đại dịch Covid- 19. Phủ nhận trơ trẽn, sạch trơn như vậy là có lỗi với những cố gắng và sự hy sinh mất mát của những người đã tham gia chống dịch; đồng thời, có lỗi cả với những người đã được tận tình cứu chữa nhưng do bệnh nặng mà không qua khỏi… Không ai muốn những tổn thất vì đại dịch, song khi điều đó đã xảy ra, thì không thể chỉ vin vào cớ đó mà nói xấu chế độ và chống phá Đảng được.

2. Những nhiệm kỳ gần đây, Đảng không chỉ ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, két luận liên quan đến công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng mà còn lãnh đạo chặt chẽ công tác này để nhằm mục tiêu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng. Thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng là trong đấu tranh chống tham nhũng phải luôn tuân thủ quy định của pháp luật; là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, những kết quả của công tác đấu tranh chống tham nhũng những năm qua không chỉ tạo được bước đột phá mà còn góp phần từng bước hình thành cơ chế răn đe để mỗi cán bộ, đảng viên ở các cơ quan công quyền “không dám tham nhũng, không thể tham nhũng và không muốn tham nhũng”…

Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong từng tổ chức Đảng vẫn chưa thể ngăn chặn, đẩy lùi triệt để. Cho nên, chưa bao giờ lại có nhiều cán bộ cấp cao vướng vào vòng lao lý vì tham nhũng, cố ý làm trái pháp luật như nhiệm kỳ khóa XII của Đảng. Đồng thời, cũng chưa bao giờ việc phòng và đấu tranh chống tham nhũng gắn với phòng và chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo Quy định số 32-QĐ/TWcủa Bộ Chính trị về “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” lại trở nên cấp bách và có ý nghĩa như vậy.

Bởi rằng, cùng với việc phòng và chống dịch Covid- 1, thì đâu đó vẫn có những cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất và đi liền cùng đó là có những tiêu cực đã được chỉ ra. Việc các cơ quan chức năng đã và đang điều tra, xử lý nghiêm minh theo pháp luật các tổ chức và cá nhân, trong đó có Công ty Việt Á (do Phan Quốc Việt thành lập, đang bị cáo buộc ‘thổi giá’ kit xét nghiệm Covid-19) và các cơ quan hữu quan (Giám đốc CDC Hải Dương,…) liên quan đến việc mua sản phẩm của công ty này với giá cao cho thấy tham nhũng và tiêu cực vẫn đang là vấn nạn. Cùng với đó, việc những quan chức cấp cao như Nguyễn Hữu Tín, Tất Thành Cang, Trần Vĩnh Tuyến, Nguyễn Đức Chung… đã lạm dụng/lợi dụng quyền lực được giao để mưu cầu lợi ích cho cá nhân và nhóm lợi ích, nên đã phải đứng trước vành móng ngựa vì vi phạm pháp luật cũng là những ví dụ cho thấy sự suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn chưa được ngăn chặn và đó vẫn đang là mối đe dọa uy tín, danh dự của một Đảng cầm quyền. Vi phạm pháp luật thì tất yếu sẽ bị xử lý, dù họ là ai, đã và đang đảm nhiệm trọng trách gì, song như vậy không có nghĩa là “bộ máy tham nhũng vẫn miệt mài hoạt động bất kể hoàn cảnh, điều kiện nào” và “hơn cả Covid-19” như JB Nguyễn Hữu Vinh quy chụp.

3. Rõ ràng là, các hành vi tham nhũng và tiêu cực trong lĩnh vực nào cùng vậy (chứ không chỉ riêng trong lĩnh vực đất đai, y tế…), đều làm mất đi sự trong sạch của bộ máy Đảng và Nhà nước; đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, phẩm chất đạo đức và vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đồng thời, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, càng khó khăn thử thách, Đảng càng phải đẩy mạnh công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng gắn liền với công tác phòng, chống tiêu cực; nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng.

Không chỉ riêng Công ty Việt Á mà bất kể cá nhân, tổ chức nào vi phạm pháp luật, đầu cơ, tham ô, tham nhũng hay nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp thì cũng sẽ bị trừng trị nghiêm minh theo pháp luật, trên tinh thần “cắt bỏ một cành cây hỏng để cứu cả thân cây; chặt bỏ một cây sâu bệnh để cứu cả một rừng cây xanh tốt”. Thống nhất trong chủ trương và quyết liệt trong xử lý các hành vi, vụ án tham nhũng là để làm trong sạch Đảng, để Đảng mạnh khỏe chứ không phải đó “là một cái cớ để các phe nhóm trong đảng đưa nhau ra tòa, vào tù trong cuộc chiến giành quyền và lợi trong đảng”. Hơn nữa, tham nhũng là con đẻ của quyền lực, ở đâu có quyền lực thì ở đó tất yếu tiềm ẩn và sẽ có tham nhũng, chứ không phải “tham nhũng là điều tất nhiên, hiển nhiên, dĩ nhiên và được thực hiện ngang nhiên trong chế độ cộng sản độc tài” như JB Nguyễn Hữu Vinh xuyên tạc và vu khống Đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo cách mạng là bởi Đảng đã khẳng định được vai trò tiền phong, lãnh đạo của mình; là bởi sự tôn vinh, tin tưởng của các tầng lớp nhân dân; là bởi sự thừa nhận của các chính đảng khác như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội… và đương nhiên, đó không phải là căn nguyên dẫn đến tham nhũng. Cho nên, những luận điệu phản động này: “không được tham nhũng, thì hệ thống đảng sẽ tự rệu rã và tự giải tán”, “tham nhũng, đó cũng chỉ là một biến thể tất yếu bên cạnh các biến thể khác như bạo lực, bất nhân, dối trá và lừa đảo. Tất cả có nguồn gốc từ loại virus gốc là virus mang tên cộng sản” của JB Nguyễn Hữu Vinh mới chính là “loại virus nguy hiểm” gây rối lòng dân và rất cần có loại vaccine/thuốc đặc trị hữu hiệu để phòng ngừa và điều trị!

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2022

Chống thù trong, giặc ngoài - Một cuộc chiến không có vùng cấm!

         Mấy ngày qua, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hải Dương và một số đơn vị, địa phương liên quan. Đồng thời, ra quyết định khởi tố 07 bị can; trong đó, có Phan Quốc Việt, Tổng Giám đốc Công ty này để điều tra về những sai phạm trong việc nâng khống giá kít xét nghiệm Covid-19 đang thu hút được sự quan tâm của dư luận. Lợi dụng sự việc này, hàng chục bài viết trên các trang mạng xã hội xuyên tạc chủ trương, đường lối phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước ta; điển hình là kênh VOA tiếng Việt, facebook Tiếng Dân News đăng nhiều kỳ bài: “Scadal Việt Á: Đâu là đầu bạch tuộc?” của Trần Văn. Vậy có đúng như thế không? 


Cần khẳng định rằng: ngay khi đại dịch Covid-19 bùng phát, Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam luôn nhất quán, đặt mục tiêu đẩy mạnh thực hiện phòng, chống dịch vì sức khỏe của nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Từ đó, đề ra chủ trương, biện pháp phòng, chống dịch và thường xuyên có sự điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến thực tế của dịch bệnh, tình hình cụ thể của đất nước. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị đã chung sức, đồng lòng trong cuộc chiến chống dịch Covid-19 và thu được những thành quả nhất định, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Và nhiều tấm gương của các lực lượng tuyến đầu chống dịch dám xả thân, quên mình vì nhiệm vụ, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng vì sức khỏe của cộng đồng. Hiện nay, những biến thể của virus SARS-CoV-2 tiếp tục có biến đổi, nguy hiểm, khó lường nên để vừa phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP, ngày 11/10/2021 về quy định tạm thời thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Trong đó, tập trung thực hiện tốt mục tiêu là hạn chế thấp nhất ca nhiễm, ca chuyển nặng, tử vong do Covid-19; khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đưa cả nước chuyển sang trạng thái bình thường mới.

Tiếc thay, trong guồng quay chống dịch, đứng trước sự mua chuộc, cám dỗ của đồng tiền, một số cán bộ, đảng viên đã không đủ bản lĩnh, sa ngã, mưu lợi cá nhân, vi phạm pháp luật. Họ đã cấu kết, nâng khống giá trị các trang thiết bị, vật tư y tế phục vụ phòng, chống dịch, làm thất thoát ngân sách của nhà nước hàng chục tỉ đồng. Đây chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh” của một số cá nhân cơ hội, thực dụng nhưng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc phòng, chống dịch của cả hệ thống chính trị, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Hành động, việc làm này cần bị dư luận lên án, xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để răn đe, làm gương cho những ai đang có ý định “đục nước, béo cò”, đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

Ngày 31/12/2021, Trung tướng Tô Ân Xô, Chánh văn phòng kiêm người phát ngôn Bộ Công an, cho biết Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án về các tội Đưa hối lộ, Nhận hối lộ và Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ liên quan đến vụ nâng khống giá kit xét nghiệm Covid-19 Việt Á.

Các bị can: Nguyễn Văn Định; Nguyễn Thị Hồng Thắm; Nguyễn Thành Danh; Trần Thanh Phong; Lê Thị Hồng Xuyên; Tiêu Quốc Cường; Nguyễn Trường Giang; Nguyễn Thị Thuý: Lê Trung Thúy; Nguyên (lần lượt từ trái sang phải, từ trên xuống dưới)

 

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án về các tội Đưa hối lộ, Nhận hối lộ và Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ; đồng thời, ra các Quyết định, thủ tục tố tụng. Cụ thể, quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can đối với Phan Quốc Việt, Tổng Giám đốc Công ty Việt Á và Vũ Đình Hiệp, Phó Tổng giám đốc Công ty Việt Á về tội Đưa hối lộ; Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Duy Tuyến, Giám đốc CDC Hải Dương, về tội Nhận hối lộ.

 Đồng thời, ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh khám xét và áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với 12 đối tượng: Về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ đối với: Ông Nguyễn Minh Tuấn, nguyên Vụ trưởng Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế, Bộ Y tế; Ông Nguyễn Nam Liên, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính, Bộ Y tế; Ông Trịnh Thanh Hùng, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ các ngành kinh tế kỹ thuật, Bộ Khoa học và Công nghệ;

Về tội Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng đối với: Ông Nguyễn Văn Định, Giám đốc CDC Nghệ An; Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm, Kế Toán trưởng CDC Nghệ An; Nguyễn Thành Danh, Giám đốc CDC Bình Dương; Trần Thanh Phong, Phó phòng Tài chính Kế toán CDC Bình Dương; Lê Thị Hồng Xuyên, nguyên Phụ trách Phòng Thí nghiệm CDC Bình Dương; Tiêu Quốc Cường, Kế toán trưởng, Phó phòng tài chính Sở Y tế Bình Dương; Nguyễn Trường Giang, Giám đốc Công ty VNDAT; Nguyễn Thị Thuý, nhân viên kinh doanh Công ty VNDAT; Lê Trung Nguyên, Giám đốc Vùng Công ty Việt Á.

            Sau khi được Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 3) phê chuẩn, ngày 31-12-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã thi hành các Quyết định và Lệnh nêu trên theo đúng quy định của pháp luật.

Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đang tiếp tục điều tra mở rộng đối với các cá nhân, đơn vị liên quan để làm rõ bản chất của vụ án, yếu tố tư lợi...; rà soát, kê biên, phong tỏa tài sản của các đối tượng để đảm bảo triệt để thu hồi cho Nhà nước.

Với việc điều tra, khởi tố vụ án hình sự “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á và một số đơn vị, cá nhân sai phạm cho thấy quyết tâm đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta là không ngừng, không nghỉ, không có “vùng cấm”, để làm trong sạch bộ máy, đội ngũ cán bộ đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân. Đồng thời, vạch trần âm mưu, dã tâm xấu độc của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị lợi dụng sự vi phạm pháp luật của một số cán bộ, đảng viên trong công tác phòng, chống dịch để suy diễn, quy chụp, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ./.

 

Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2022

Năm mới suy ngẫm về sự kiện cũ và điều cần rút ra!

 “Diễn biến hòa bình” – Một kịch bản “phi nhân tính”, nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu – Những điều suy ngẫm, cần rút kinh nghiệm không được để tái diễn…



Sau chiến tranh Thế giới lần thứ II (1945), hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ra đời, chiếm 35% dân số thế giới. Liên Xô trở thành thành trì của hệ thống xã hội chủ nghĩa; phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Á, châu Phi, Mỹ La tinh phát triển mạnh mẽ, trở thành một xu thế khách quan, phổ biến, tiến bộ xã hội được khẳng định. Không chấp nhận tình hình ấy, phương Tây tiến hành chiến lược toàn cầu phản cách mạng nhằm “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, “hạ nhiệt cơn sốt”, sức lan tỏa bởi ảnh hưởng rộng lớn của Liên Xô đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Với chiến lược này, Mỹ và phương Tây dùng biện pháp vũ trang, sử dụng sức mạnh quân sự là chủ yếu, lấy chiến tranh là phương thức “độc chiêu”. Mỹ đã xây dựng căn cứ quân sự ở khắp nơi; NATO đã nhanh chóng ra đời. Tuy nhiên, biện pháp vũ trang và sử dụng sức mạnh quân sự đã không thể đánh sập hệ thống xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, phương Tây đã “đổi mới tư duy”, dùng biện pháp mới “phi vũ trang” mà cốt lối của nó là âm mưu, thủ đoạn và hoạt động “diễn biến hòa bình” với cuồng vọng chiến thắng chủ nghĩa xã hội mà không cần chiến tranh, không cần súng đạn.

Sự kiện nổi bật, mang dấu ấn cột mốc đánh dấu sự khởi đầu của “diễn biến hòa bình” được ghi lại là ngày 22-12-1946, khi G. Kennan – đại diện của Mỹ ở Liên Xô gửi một bức điện dài 8.000 từ về Mỹ, kiến nghị với Nhà Trắng chính sách chống Liên Xô, đó là: bao vây quân sự, phong tỏa kinh tế, lật đổ chính trị, khi cần dùng vũ trang xâm lược; kiềm chế, ngăn chặn “làn sóng cộng sản” đang lan tràn, uy hiếp nền dân chủ… Cùng với đó, Akinsơn đề ra luận thuyết “chủ nghĩa dân chủ cá nhân”; Đalét với chiến lược “hòa bình giải phóng”; Kennơđi với học thuyết “gieo hạt giống tự do trong kẽ nứt tấm màn thép”,v.v.. Tuy cách tiếp cận, nội dung, “hồn cốt” của các luận thuyết ấy có nhiều điểm đề xuất khác nhau, song mục tiêu, quan điểm, biện pháp của các luận thuyết ấy cơ bản có điểm chúng, giống nhau là thay biện pháp quân sự bằng biện pháp phi quân sự, đánh vào lòng người là chủ yếu, kết hợp với đánh vào kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, ngoại giao, quốc phòng, an ninh…, để giành thắng lợi mà không cần bạo lực, không cần gây chiến tranh, không cần sử dụng vũ khí. Kennơđi – Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ, đã coi phương pháp “hòa bình” là kế sách “diệu kỳ”, có sức mạnh tối ưu, có thể sử dụng nó “vô thời hạn”, “xuyên biên giới”, lấy uy hiếp quân sự và sức mạnh của vũ khí hiện dại để làm hậu thuẫn, dồn sức tập trung đánh đồng loạt vào các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo…, làm cho các “nhân tố phi xã hội chủ nghĩa lớn dẫn lên trong lòng cac nước xã hội chủ nghĩa”…, khiến các nước này sụp đổ dần dần, từ bên trong, tự tan rã, tự biến mất, nhờ đỏ “phương Tây có thể kê cao gối để ngủ”.

Tháng 3-1947, Truman – Tổng thống Mỹ đã quyết định thành lập tổ chức “Nghiên cứu các giải pháp hoà bình chống chủ nghĩa xã hội” và xác định: Mục tiêu của Mỹ là gieo rắc ở Liên Xô sự hoài nghi, bi quan trong dân chúng, hỗn loạn trong xã hội. Tháng 12-1957, Tổng thống Aixenhao tuyên bố “Mỹ sẽ giành thắng lợi bằng biện pháp hòa bình” trước chủ nghĩa xã hội. Luận điểm này được coi là “hồn cốt” – nội dung cốt lõi của âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”. Sức nặng của lời tuyên bố ấy là thủ đoạn “hé bức màn sắt” – chọc thủng cánh cửa đi vào chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ Liên Xô. Z.Brzesinki trong cuốn Thất bại lớn – bản tiếng Việt, trang 158, đã thừa nhận: Từ 1981 đến 1987, khoảng 15 ngàn báo chí bí mật, 24 ngàn quyển sách và bài viết từ Mỹ và phương Tây đã được đưa vào các nước xã hội chủ nghĩa, chủ yếu là lan truyền vào Liên Xô. Với chính sách “cây gậy và củ cà rốt”, Mỹ đã phát huy tác dụng của “trận đánh kép”: vừa dùng sức mạnh quân sự để răn đe, vừa đánh vào lòng người bằng “miếng mồi nhử” từ cần câu “kinh tế”, “viện trợ”, “ngoại giao thân thiện”… Ngay từ đầu, biện pháp này đã phát huy tác dụng; nhiều cán bộ cao cấp trong các Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã ý thức được tác hại của “diễn biến hòa bình”; song đáng tiếc là những người có trách nhiệm cao nhất trong các Đảng Cộng sản ở các nước ấy đã làm ngơ, để mất cảnh giác nên đã trúng mưu kế của phương Tây và các thế lực thù địch.

Mũi nhọn của “diễn biến hòa bình” là triệt để lợi dụng sóng “dân chủ hóa”, “công khai hóa” bùng phát ở Liên Xô, đang lây lan sang các nước xã hội chủ nhĩa ở Đông Âu để đẩy nhanh sự xuất hiện “các nhân tố mới lạ, xa dần với các giá trị chuẩn mực của chủ nghĩa cộng sản”, tiến tới làm thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Cuối cùng sử dụng “sự mọt ruỗng từ bên trong của các Đảng Cộng sản” để đánh sập cả hệ thống các nước xã hội chru nghĩa. Phương Tây đã chọn điểm khởi phát của thủ đoạn “diễn biến hòa bình” là đánh thẳng vào mắt khâu yếu nhất của sợi dây chuyền dẫn làm sụp đổ hệ thống chủ nghĩa xã hội là Hunggary.

Lợi dụng làn sóng cải cách, mở cửa giữa những năm 80 của thế kỷ XX ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, phương Tây đã dùng mọi biện pháp tâm lý thông qua mạng xã hội, sách bao, tài liệu và các cuộc hội thảo khoa học, hội họp, biểu tình để kích động người dân Hunggary, khuyến khích phát triển tư tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền, từng bước làm cho người dân Hunggary “quay lưng lại với Liên Xô”, “tẩy chay quân đội Liên Xô”; hướng về phương Tây, nuôi dưỡng tham vọng được sống sung sướng, “có cuộc đổi đời” của người dân các nước này. Đòn độc chiêu, nguy hiểm nhất mà phương Tây đã áp dụng ở Hunggary là thực hiện chiến dịch “đánh tỉa” nhằm vào giới trẻ, lóp người “năng động nhất, nhạy cảm nhất, dễ sai khiến nhất”. Trên cơ sở kích động tâm lý sùng bái hàng ngoại; tạo ra sự bất mãn của người dân với Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, mất niềm tin của sinh viên, thanh niên với Đảng Lao động Hunggary (11-1956, Đảng này đã đổi tên thành Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggary).

Sự lây nhiễm của “diễn biến hòa bình” đã tràn sang đất nước Ba Lan. So với Hunggary, phương Tây đã “khôn khéo” khoét sâu vào điểm yếu nhất của xã hội Ba Lan thời đó là nước này đi lên chủ nghĩa xã hội từ nền nông nghiệp kém phát triển. Những người đóng vai trò lãnh đạo ở trong Đảng và Nhà nước Ba Lan chủ yếu đều xuất thân từ nông dân. Phương Tây đã tuyên truyền, kích động, lôi kéo những cán bộ cao cấp và tầng lớp trí thức, công nhân xuất thân từ nông dân để thành lập Công đoàn Đoàn kết, một lực lượng đối trọng với Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan. Nội dung chủ yếu trong màn kịch “diễn biến hòa bình” ở Ba Lan là phương Tây luôn tuyên truyền rùm beng về mức sống quá thấp trong xã hội, làm cho người dân Ba Lan so sánh thiệt hơn và nhìn thấy sự chênh lệch về mức sống của người dân Ba Lan với người dân phương Tây, qua đó làm cho họ chán nản chế độ chủ nghĩa xã hội và cho rằng, chính xã hội xã hội chủ nghĩa là nguyên nhân làm cho người dân Ba Lan đói khổ, đất nước tụt hậu, không thể phát triển, tương lai mù mịt.

Triệt để lợi dụng sự rối loạn của tình hình, phương Tây đã tăng tốc sự kích động và tuyên truyền tư tưởng “chia rẽ” vào thanh niên, sinh viên sự “xâm lược của Liên Xô”, đòi Ba Lan tách khỏi “sự thống trị của Liên Xô”. Với các yêu sách đề ra, vào năm 1988, các cuộc đình công kéo dài ở Ba Lan đã diễn ra, buộc Đảng Công nhân thông nhất Ba Lan phải ngồi vào “bàn tròn” đàm phán với phe đối lập. Kết cục của cuộc gặp “bàn tròn” ấy là sự buông xuôi của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan, để cho các phe đối lập, đảng phái tranh cướp quyền lực, lũng loạn trong Đảng, trong Quốc hội và Chính phủ. Việc Công đoàn Đoàn kết chiếm 99% số ghế ở Thượng viện đã đánh dấu sự thất bại cay đắng và hoàn toàn bất lực của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan.

Tình hình ở Tiệp Khắc đã diễn ra đúng như kịch bản “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đã áp dụng ở Hunggary và Ba Lan. Phương Tây đã thực thi một cách “êm đẹp” các chiêu bài tranh giành thanh niên và trí thức, lợi dụng sức mạnh của lực lượng này để tạo ra các cuộc biểu tình, gây mâu thuẫn nội bộ và rối loạn xã hội. Trước tình cảnh ấy, nội bộ Đảng Cộng sản Tiệp Khắc lại mất đoàn kết kéo dài; không tìm ra phương pháp hữu hiệu nào để bảo vệ Đảng, Nhà nước trước nguy cơ sụp đổ, sự “quay lưng của đảng viên và người dân”. Đó là mảnh đất màu mỡ khiến cho phương Tây “thừa thắng xông lên”, đẩy nhanh tiến độ, hoạt động “diễn biến hòa bình”. Cuối năm 1989, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc mất vai trò lãnh đạo và chính phủ mới được thành lập với các thành viên đa số không phải là đảng viên Đảng Cộng sản.

Qua việc phác thảo ba bức tranh nêu trên, có thể thấy ngón đòn ác hiểm nhất là phương Tây đã chọn và đánh trúng, đánh đúng vào điểm hiểm yếu nhất của các nước xã hội chủ nghĩa là sự non kém của bộ máy lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở các nước ấy. Chính điều đó khẳng định rằng, trong thời đại hiện nay, bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, nếu Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc mácxít trong lãnh đạo nhà nước và xã hội, nắm chắc lực lượng vũ trang và pháp luật – thật sự đoàn kết, thống nhất, ra sức chăm lo phát triển kinh tế, ổn định chính trị – xã hội; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, tôn trọng nhân dân, lấy dân làm gốc; quan tâm chăm lo đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ… thì “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch dù có trăm ngàn phương kế, lắm chiêu trò “ảo thuật” cũng không thể thực hiện “diễn biến hòa bình”, gây hại cho Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Nét mới, rất khác biệt trong thực hiện “diễn biến hòa bình” ở Cộng hòa dân chủ Đức là phương Tây sử dụng chiêu bài tăng cường hối thúc “tự diễn biến” trong lòng Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức thông qua việc lợi dụng triệt để sự phân hóa trong giới lãnh đạo cao cấp do mâu thuẫn nội bộ Đảng và Nhà nước gây nên. Đồng thời, phương Tây rất quyết liệt trong việc tranh giành và sử dụng giới trí thức và thanh niên để kích động tính dân tộc Đức nhằm đánh thẳng vào các tổ chức và người đứng đầu Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương. Từng bước chia rẽ và chặt đứt mối quan hệ giữa đảng cầm quyền với quần chúng nhân dân, làm cho sự hoài nghi, thiếu tin tưởng vào đường lối của Đảng, sự quản lý điều, hành của Nhà nước tăng vọt trong dân chúng với các chiêu trò vu không Đảng tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, phản bội nhân dân. Mặt khác, phương Tây và các thế lực thù địch, cơ hội đã “rút kinh nghiệm sâu sắc” việc triển khai thực hiện “diễn biến hòa bình” ở Hunggary, Ba Lan, Tiệp Khắc để đẩy mạnh việc chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước với Liên Xô, Trung ương và địa phương; làm cho nội bộ Đảng, Nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức ngày càng mâu thuẫn gay gắt với nhau và với Liên Xô cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Trong bối cảnh ấy, Ban lãnh đạo Đảng Cộng hòa dân chủ Đức đấ tỏ ra hết sức lúng túng, bị động, họ trông chờ vào sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô nhưng bản thân Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Xôviết cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức mới, tự mình chưa thể khắc phục được. Đầu tháng 10-1989, các cuộc biểu tình ngày càng phức tạp và vô cùng quyết liệt, Ban lãnh đạo Đảng, Nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức từng bước nhượng bộ, thỏa hiệp rồi rút lui. Ngày 18-11-­1989, Hội nghị Trung ương Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức đã họp và Bộ Chính trị từ chức tập thể. Mười ngày sau đó, cựu Tổng Bí thư Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức Honecker bị bắt với lời buộc tội là phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân, vi phạm hiến pháp. Đó là cột mốc đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của Cộng hòa dân chủ Đức, chấm dứt vai trò lãnh đạo của Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức.

Kịch bản thực hiện “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với Liên Xô có những nét riêng, khá độc đáo. Để đánh sập chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, phương Tây đặc biệt coi trọng việc truyền bá tư tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền, thực hiện sách lược “mưa dầm thấm sâu” luồn sâu, leo cao, thận trọng từng bước, quyết tâm “hé mở tấm màn sắt” để can thiệp ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ngoại giao và quốc phòng, an ninh của Liên Xô, thực hiện đánh đổ từ bên trong kết hợp với răn đe sức mạnh quân sự từ bên ngoài, đẩy mạnh chia rẽ nội bộ Đảng Cọng sản với Nhà nước Xô viết; Ráo diết, quyết liệt thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ 15 nước cộng hòa và hệ thống chuyên chính vô sản đã được thiết lập khá vững chắc từ thời V.I. Lênin.

Chớp lấy thời cơ “ngàn năm có một” khi Liên Xô thực hiện cải tổ, phương Tây đã đẩy nhanh tiến độ “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để “phi đảng” và “phi chính trị hóa” quân đội ở nước này. Vào thời điểm đó, nền kinh tế của Liên Xô gặp vô vàn khó khăn, thách thức, tổng khủng hoảng xã hội rất nghiêm trọng. Phương Tây đã triệt để lợi dụng cái gọi là chính sách công khai hóa, dân chủ hóa của Goócbachốp – Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô để đẩy nhanh tiến độ thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong nhiều nước cộng hòa của Liên bang Xô viết. Vì vậy, tình hình kinh tế – chính trị – xã hội của Liên Xô ngày càng rơi vào tình trạng hỗn loạn, lạm phát, nợ công, đất nước đứng trước bờ vực thẳm. Đặc biệt, trong Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, lực lượng cơ hội, “cấp tiến”, phản động ngày càng chiếm ưu thế và có tiếng nói quyết định trong việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng. Nhiều ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phản bội Đảng Cộng sản. Trong bối cảnh kinh tế suy thoái, chính trị rối ren, phương Tây đã khôn khéo lợi dụng tình thế ấy, liên tục tăng viện trợ kinh tế, ép Liên Xô phải cải cách chính trị và chấp nhận cho các quốc gia vùng Ban Tích tách khỏi Liên bang Xô viết.

Vào tháng 12-1991, Liên bang Xô viết tan vỡ, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sau hơn 74 năm xây dựng đã sụp đổ, 15 nước cộng hòa vốn là anh em trong đại gia đình Xô viết đã quay lưng lại với nhau, thậm chí một số nước đã chĩa súng bắn vào nhau, gây nên thảm cảnh “nồi da nấu thịt”. Tình cảnh xung đột vũ trang đẫm máu ở Ucraina và Nga những năm qua đã nói lên điều đó. Năm mới nhìn lại sự kiện cũ để thấy giá trị được sống trong hòa bình, độc lập, tự do thật cao quý. Vì vậy, chúng ta hãy nêu cao cảnh giác, làm tốt trách nhiệm công dân để âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” không có cơ hội tái diễn trên đất nước ta./.

Mừng 63 năm Quốc khánh CuBa (1/1/1959-1/1/2022), những người anh em thủy chung, thân thiết của Việt Nam!

 Nhân dịp 63 năm Quốc khánh Cộng hoà Cuba (1.1.1959 - 1.1.2022), Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã gửi Thư chúc mừng tới Chủ tịch Quốc hội Chính quyền nhân dân Cộng hòa Cuba Esteban Lazo Hernandez.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ

Thay mặt Quốc hội nước Việt Nam và nhân danh cá nhân, Chủ tịch Quốc hội gửi tới Chủ tịch Esteban Lazo Hernandez, các đại biểu Quốc hội và nhân dân Cuba lời chúc mừng nồng nhiệt nhất.

Chủ tịch Quốc hội vui mừng nhận thấy mối quan hệ đồng chí anh em hiếm có, mẫu mực, thủy chung giữa Việt Nam - Cuba không ngừng được củng cố và phát triển toàn diện trong bối cảnh tình hình quốc tế biến động khó lường và đại dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp.

"Hai nước chúng ta dù xa xôi cách trở về địa lý và còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng vẫn luôn kề vai sát cánh, chia ngọt sẻ bùi và ủng hộ lẫn nhau trên con đường phát triển của mình. Đó là tài sản vô giá của hai Đảng, hai Dân tộc, là minh chứng cho tình đồng chí, tình hữu nghị anh em trường tồn, là cầu nối từ trái tim tới trái tim giữa nhân dân hai nước. Việt Nam luôn quan tâm theo dõi tình hình Cuba, vui mừng trước những thành tựu quan trọng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba đã đạt được, với những nỗ lực không ngừng để vượt qua khó khăn về kinh tế, những ảnh hưởng nặng nề do bị bao vây cấm vận và đại dịch Covid-19 gây ra", Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh. 

Thay mặt Quốc hội và nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội chuyển đến Chủ tịch Esteban Lazo Hernandez và nhân dân Cuba anh em lời chúc mừng chân thành nhất của Quốc hội và nhân dân Việt Nam; đồng thời khẳng định sẽ làm hết sức mình để vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước nói chung và quan hệ hợp tác gắn bó giữa Cơ quan lập pháp hai nước nói riêng không ngừng phát triển tốt đẹp hơn nữa, vì lợi ích thiết thực của nhân dân hai nước.

Nhân dịp Năm mới 2022, Chủ tịch Quốc hội chúc Chủ tịch Esteban Lazo Hernandez và gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt được nhiều thành công trên cương vị cao cả của mình.

_Theo: Daibieunhandan.vn_

"Họ" - tư cách nào để cáo buộc Việt Nam?

 Như thông lệ, cứ vào dịp chuẩn bị kỷ niệm Ngày Nhân quyền thế giới (10/12), một số tổ chức lấy danh “nhân quyền” như Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ) lại ra tăng các luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. 

Luận điệu được họ đưa ra là tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong những năm qua chưa được cải thiện đáng kể; Việt Nam vẫn là một trong những nước vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, như: “chà đạp quyền con người”, “phân biệt đối xử với tôn giáo, tín ngưỡng”, vu cáo Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, chính quyền gia tăng đàn áp những người “hoạt động dân sự”, “bất đồng chính kiến”, giam giữ nhiều “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm”, v.v. Dưới dạng những “thư ngỏ”, “thông cáo”, họ kêu gọi một số nước và các tổ chức quốc tế thúc ép Việt Nam trả tự do cho những “tiếng nói bất đồng” đang bị giam giữ và có những cải thiện về nhân quyền”. Thực chất đó là việc lợi dụng chiêu bài “nhân quyền” để thúc đẩy các quốc gia, tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, hướng lái theo ý đồ của họ; là công cụ nhằm can thiệp, gây khó khăn cho Việt Nam trong hội nhập quốc tế, tham gia vào các hoạt động quốc tế, khu vực.

Nhân quyền là vấn đề còn những cách hiểu khác nhau, chính bởi vậy quan niệm về vấn đề này không có sự thống nhất giữa các quốc gia. Tuỳ theo góc độ tiếp cận, quan điểm chính trị, lợi ích giai cấp mà các quốc gia có những quan niệm khác nhau về quyền con người. Ở Việt Nam, nhân quyền được hiểu là những giá trị cơ bản mà con người giành được trong lịch sử đấu tranh cải tạo tự nhiên và xã hội nhằm khẳng định địa vị chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, pháp lý của mình. Đó là tổng thể các nhu cầu, năng lực, tự do, nhân phẩm của con người với tư cách cá nhân và cộng đồng xã hội được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong hệ thống luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế.

Quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là không ngừng mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người. Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”. Đồng thời, nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Sự cố gắng và thành quả của Việt Nam trong việc đảm bảo và thực thi quyền con người đã được nhiều tổ chức quốc tế, chính giới các nước ghi nhận, đánh giá cao; đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19, được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao. Đồng thời, tham gia đóng góp tích cực vào định hình các chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người, đặc biệt quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, v.v. Và trong lúc cả nước đang gồng mình chống lại đại dịch COVID-19, việc Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho 3.035 phạm nhân vào đúng dịp Quốc khánh 02/9/2021 đã thể hiện ý nghĩa nhân văn sâu sắc; phản ánh rõ sự ưu tiên bảo đảm và thúc đẩy quyền con người của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025.Đó là sự thực không thể bác bỏ!

Mặc dù những tổ chức quốc tế nhân danh bảo vệ “nhân quyền” ra sức xuyên tạc, vu cáo Việt Nam, song nực cười ở chỗ: chính họ lại vi phạm các quy định của quốc tế về nhân quyền. Cụ thể, hoạt động của một số tổ chức về nhân quyền trên vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc quốc tế không can thiệp các vấn đề thuộc thẩm quyền của quốc gia khác theo Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Tuyên bố những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc: “Không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào khác. Can thiệp vũ trang và tất cả các hình thức can thiệp hay đe dọa chống lại tư cách của quốc gia hay chống lại các đặc trưng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó – đều là vi phạm luật pháp quốc tế”.

Và họ cố tình “quên” Điều 1 của Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”; “Các quốc gia thành viên Công ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý các lãnh thổ ủy trị và các lãnh thổ quản thác, phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết dân tộc và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc”.

Chúng tôi xin nhắc để các tổ chức mượn danh “nhân quyền” biết rằng: ở bất kỳ quốc gia nào, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Tại Việt Nam cũng như ở bất kỳ quốc gia có chủ quyền, người nào vi phạm pháp luật phải bị xử lý theo quy định pháp luật. Hoàn toàn không có việc Việt Nam vi phạm nhân quyền thông qua các hoạt động tố tụng như khởi tố, bắt giữ, điều tra, truy tố, luận tội, xét xử trước tòa án. Ở Việt Nam không có khái niệm, danh xưng nào gọi những đối tượng vi phạm pháp luật là những nhà “bất đồng chính kiến” hay “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” như những luận điệu mà các tổ chức chống phá đưa ra.

Như vậy, bất chấp những quy định của luật pháp quốc tế và sự thực về bảo đảm quyền con người của Việt Nam, những tổ chức mang danh “nhân quyền” nói trên vẫn lấy cớ can thiệp, cáo buộc bằng cách làm sai lệch bản chất các vụ việc diễn ra trên thực tế để quy chụp, bôi lem tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Với việc vi phạm các quy định luật pháp quốc tế về nhân quyền, hoạt động có mục đích, động cơ xấu, chống phá, can thiệp vào nội bộ nước khác bằng thủ đoạn bóp méo, xuyên tạc sự thật về nhân quyền, rõ ràng những tổ chức này không có tư cách để nói về nhân quyền, đánh giá và cáo buộc “Việt Nam vi phạm nhân quyền”./.