Thứ Tư, 5 tháng 2, 2025

Ý Đảng – Lòng Dân hòa cùng mùa Xuân, Đất nước

 Như một thông lệ, cứ vào dịp Nhân dân ta đón Tết, mừng Xuân, ở phía bên kia chiến tuyến, những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta lại điên cuồng tái diễn chiêu trò “đâm bị thóc, chọc bị gạo”; ra sức “chọc gậy bánh xe” cốt để châm chích, kích động, tuyên truyền sai trái, xuyên tạc sự thật nhằm chống phá Đảng, Nhà nước; chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, Nhân dân với Đảng, Nhà nước; làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” lực  lượng vũ trang với tham vọng làm mất chỗ dựa tin cậy, vững chắc, tuyệt đối trung thành của Đảng, Nhà nước và chế độ là Quân đội và Công an để dễ bề thao túng Đảng, Nhà nước, lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

 Năm nay, “điệp khúc” ấy lại tái diễn vào đúng lúc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vui Xuân, đón Tết Ất Tỵ 2025 và chào mừng kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh (3/2/1930-3/2/2025). Lợi dụng sự kiện này, các thế lực thù địch triệt để sử dụng không gian mạng để tán phát các vệt tin, bài, video clip có nội dung xấu, độc nhằm tuyên truyền sai trái về Lịch sử 95 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với các luận điểm: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử”, “Đảng tồn tại không vì dân, chỉ vì Đảng”; “Lợi ích của Đảng cao hơn lợi ích của dân tộc”; “cán bộ của Đảng là quan cách mạng, không phải là công bộc của dân”, “Đảng không còn là người đầy tớ trung thành của Nhân dân”, “xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ là cuộc đấu đá nội bộ”, là cơ hội “thanh trừng các hội nhóm, phe phái trong Đảng”, “Nạn tham nhũng trong Đảng Cộng sản Việt Nam quá nặng khiến Đảng mất niềm tin trong dân chúng”; “Đảng không có năng lực lãnh đạo Nhân dân”; v.v..

Dù vẫn biết quan điểm sai trái, thù địch là bản chất cố hữu, sự thâm thù vốn có của những kẻ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta đang lan truyền nhan nhản trên mạng xã hội. Nhưng xem xét và nghe kỹ những luận điệu sai trái ấy, thêm một lần nhắc nhở chúng ta không được quên lời cảnh tỉnh, cảnh báo của V.I. Lênin: “Kẻ thù của giai cấp công nhân đã bị đánh đổ nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn; chúng còn lực lượng, âm mưu và thủ đoạn chống phá cách mạng. Vì vậy, chừng nào còn tồn tại các thế lực thù địch, thì chừng ấy, những người cộng sản không được vứt bỏ vũ khí”.

Điều đó hoàn toàn đúng đối với tình cảnh của cách mạng Việt Nam hiện nay. Bởi lẽ, âm mưu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cản trở Nhân dân ta bước vào kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trước mắt, chúng đang tập trung chống phá Nhân dân ta vui Xuân, đón Tết Ất Tỵ 2025; cản trở chúng ta tiến hành cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2025-2030, tiến tới Đại hội XIV của Đảng vào đầu năm 2026.

Lật mặt, phơi bày âm mưu, thủ đoạn đen tối ấy; cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và Nhân dân ta luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò và giải quyết thấu đáo mối quan hệ máu thịt giữa của quần chúng nhân dân với cá nhân trong lịch sử; qua đó, thấy rõ quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta: Nhân dân Việt Nam là chủ thể sáng tạo lịch sử, là lực lượng quyết định tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta; có đóng góp quan trọng vào việc gìn giữ nền hòa bình thế giới.

Vì vậy, sự nghiệp cách mạng nói chung, thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy của Đảng, Nhà nước nói riêng, là sự nghiệp vĩ đại của quần chúng nhân dân, do Nhân dân làm nên. Chính Nhân dân ta chứ không phải là lực lượng nào khác đã và đang đóng vai trò là nền móng vững chắc của chế độ xã hội ta, là chủ thể quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, dân là “gốc” nước, có Nhân dân là có tất cả. Chân lý ấy thuộc về Nhân dân, luôn luôn đúng và mãi mãi không thay đổi. Lịch sử 95 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam ghi nhận và khẳng định rõ sự thật ấy.

Sinh thời, Bác Hồ đã viết: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân…, trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân”. Bởi vì, “dễ mười lần không dân cũng chịu; khó trăm lần dân liệu cũng xong” (Bác Hồ). Ý nghĩa sâu sắc từ triết lý nhân sinh ấy đã được Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh vai trò quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng là Nhân dân.

Vì lẽ đó, suốt 95 năm qua và hiện nay, khi nước ta bước vào kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng ta nhất quán khẳng định lấy Nhân dân làm trung tâm; lấy cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo sự “tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân” của đội ngũ cán bộ, đảng viên; coi sự dấn thân, dâng hiến cho cách mạng là thước đo giá trị, ý nghĩa sự cống hiến của “người đầy tớ trung thành của Nhân dân”, phẩm chất đạo đức của những người là “công bộc của dân”. Điều này không chỉ là yêu cầu khách quan về đức và tài; năng lực và phẩm chất của người cách mạng, suốt đời “phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”, mà còn là tiêu chí đánh giá phẩm chất, năng lực của mỗi cán bộ, đảng viên đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là sự thể hiện hóa lời nói và việc làm trong thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của Nhân dân ta.

Sứ mệnh vĩ đại của Đảng ta là lãnh đạo Nhân dân thực hiện cuộc cách mạng “đổi đời”, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội; giải phóng con người; đem lại cơm no, áo ấm và hạnh phúc cho đồng bào và đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là thước đo uy tín, vị thế của Đảng và đó cũng là trách nhiệm, là lương tri, danh dự của Đảng trong suốt 95 năm qua.

Đúng vậy! Sức mạnh vĩ đại của Đảng bắt nguồn từ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với với Nhân dân; có Nhân dân thì mới có Đảng, nhờ đó, Đảng quy tụ, tập hợp, nhân lên và phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh vốn có để Nhân dân ta trở thành chủ thể sáng tạo lịch sử, kiến tạo và xây dựng chế độ XHCN tốt đẹp ở Việt Nam. Điều đó thể hiện mục tiêu phấn đấu của Đảng và nó đã được khẳng định rõ ràng qua sự gắn bó mật thiết giữa ý Đảng – lòng Dân – Vận nước; lòng Dân – ý Đảng và mùa Xuân. Sự giao hòa này đã kết tinh, quện chặt Đảng – Nhân dân – Mùa Xuân – Đất nước thành một khối thống nhất, không gì có thể chia cắt, tách rời.

Ai đó cố tình nói sai sự thật, cho rằng Đảng lãnh đạo Nhân dân ta chỉ vì lợi ích của Đảng là sự quy chụp trắng trợn, một sự định kiến hẹp hòi, nhận định không chính xác, phản nhân văn. Nói một cách khác, đó là một tầm nhìn phiến diện, “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”; “chỉ biết có một mà không biết có hai”, về thực chất, là một chiêu trò hại nước, hại dân, không thể chấp nhận…

Ở Việt Nam, tuyệt đại đa số người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn đồng tình, ủng hộ chủ trương, đường lối của Đảng, hết lòng hết sức bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN với thiện chí và đức tính nhân văn; sự xả thân hy sinh và cống hiến. Nhờ đó, Đảng ta sống trong lòng dân tộc và phát triển bền vững trong xã hội; Đảng thu phục lòng người, hóa thân vào Nhân dân và dẫn dắt Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo ra cơ ngơi, tiền đồ và tương lai tươi sáng ngày nay.

Những luận điệu cho rằng “Đảng xa dân, không vì dân, chỉ vì Đảng” là hoàn toàn không đúng sự thật. Bởi vì, 95 năm qua, đi theo Đảng làm cách mạng, Nhân dân ta hiểu rất rõ cái gì là đúng, cái gì là sai; đã kiểm nghiệm kỹ lưỡng giá trị lịch sử – giá trị nhân văn của Đảng; Đảng đã nói những gì, đã làm những gì, đã vì ai chiến đấu, hy sinh, Nhân dân đều biết cả. Do đó, ở nước Việt Nam, không có chuyện “lợi ích của Đảng cao hơn lợi ích của Nhân dân”; cũng không có chuyện “cán bộ, đảng viên làm quan cách mạng”, “hống hách, nô dịch, áp bức dân” như mấy người bất mãn, hằn thù chế độ XHCN thêu dệt, vu khống, bịa đặt, nói xấu cán bộ, đảng viên. Sự thật là ngoài lợi ích của Nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, một số cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, “tay chót nhúng chàm”, vướng vào các vụ tham nhũng, tiêu cực. Họ đã bị pháp luật của Nhà nước và kỷ luật của Đảng xử lý nghiêm minh; đúng người đúng tội. Quá trình thanh lọc ấy tuân theo quy luật khách quan; nhờ đó mà Đảng ta mạnh lên, xứng đáng là “công bộc của dân”, “người đầy tớ trung thành của Nhân dân”.

Gần 40 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng không chỉ đem lại quyền làm chủ của Nhân dân ta trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mà quan trọng hơn, đem lại niềm tin yêu vững chắc trong lòng Nhân dân. Nếu không thực hiện tốt điều ấy làm sao chúng ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Chính điều đó đã cho phép Đảng ta đưa ra các quyết sách đưa đất nước vũng tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Một Đảng có 95 mùa Xuân chăm lo cho Nhân dân, thì Đảng ấy không bao giờ hại Nhân dân.

Thực tiễn là thước đo chân lý, là mục đích và là nền tảng của nhận thức chân lý. Trong niềm vui hân hoan mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới; chúng ta có thêm niềm tin yêu, dũng khí đấu tranh phản bác mọi lời bịa đặt, vu khống, nói xấu Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, Nhân dân ta anh hùng mà các thế lực thù địch chủ mưu. Đây là cơ sở để chứng minh chân lý: Đảng vì nước vì dân thì mùa Xuân còn mãi./.

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

Cựu Thứ Trưởng Bộ TNMT bị đề nghị truy tố vì sai phạm trong cấp phép khai thác đất hiếm

 Theo thông tin từ cơ quan điều tra, cựu Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) Nguyễn Linh Ngọc đang đối mặt với cáo buộc liên quan đến việc ký giấy phép khai thác đất hiếm trái quy định cho Công ty Thái Dương, gây thất thoát hơn 864 tỷ đồng. Vụ việc này đã dẫn đến đề nghị truy tố 27 bị can, bao gồm nhiều cá nhân liên quan đến việc khai thác và buôn lậu đất hiếm sang Trung Quốc.


Cựu Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc. Anh: NLĐ

Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã hoàn tất bản kết luận điều tra, trong đó đề nghị Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao truy tố các bị can với nhiều tội danh khác nhau. Đoàn Văn Huấn, Chủ tịch Công ty Thái Dương, bị đề nghị truy tố về ba tội danh: vi phạm quy định về thăm dò, khai thác tài nguyên; vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; và gây ô nhiễm môi trường.

Cựu Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc bị đề nghị truy tố về tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí. Cùng với ông Ngọc, một số cá nhân khác tại Bộ TNMT cũng bị đề nghị truy tố, bao gồm Nguyễn Văn Thuấn, cựu Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, và Hoàng Văn Khoa, cựu Vụ trưởng Vụ Khoáng sản.

Ngoài ra, cựu Giám đốc Sở TNMT tỉnh Yên Bái Hồ Đức Hợp cũng bị đề nghị truy tố về tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí. Các bị can khác trong vụ án còn bị điều tra về các tội danh như buôn lậu, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, gây ô nhiễm môi trường, và vi phạm quy định kế toán.

Theo kết luận điều tra, năm 2013, một số lãnh đạo và cán bộ Bộ TNMT đã có những vi phạm nghiêm trọng trong việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản cho Công ty Thái Dương. Công ty này đã được cấp phép thăm dò đất hiếm tại mỏ Yên Phú (Yên Bái) từ năm 2009. Đến tháng 5/2011, công ty nộp hồ sơ xin khai thác quặng đất hiếm nhưng chưa được thông qua.

Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị yêu cầu khai thác khoáng sản phải gắn liền với chế biến sâu. Do đó, Công ty Thái Dương phải lập và bổ sung dự án "Đầu tư xây dựng tổ hợp chế biến sâu đất hiếm". Dự án này sau đó được Bộ Công Thương thẩm định và báo cáo Thủ tướng là khả thi. Bộ TNMT được giao nhiệm vụ thẩm định và cấp phép cho công ty.

Tuy nhiên, trong hồ sơ xin cấp phép, Công ty Thái Dương chỉ có giấy chứng nhận đầu tư dự án khai thác, tuyển quặng do UBND tỉnh Yên Bái cấp năm 2011, đã hết hạn vào năm 2012. Hơn nữa, vốn chủ sở hữu của công ty chỉ có 200 tỷ đồng, không đáp ứng yêu cầu tối thiểu bằng 30% tổng số vốn đầu tư dự án (1.953 tỷ đồng) theo quy định của Luật Khoáng sản năm 2010.

Theo kết luận điều tra, nhóm cán bộ Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, đứng đầu là Nguyễn Văn Thuấn, đã biết rõ Công ty Thái Dương không đủ điều kiện nhưng vẫn đề xuất lãnh đạo Bộ TNMT cấp giấy phép. Sau đó, cựu Thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc đã ký giấy phép này. Ông Ngọc khẳng định không nhận bất kỳ lợi ích nào từ Đoàn Văn Huấn, nhưng thừa nhận hành vi của mình là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc Công ty Thái Dương khai thác trái phép đất hiếm, gây thất thoát hơn 864 tỷ đồng.

Trong khi đó, Nguyễn Văn Thuấn khai nhận đã nhận 500 triệu đồng từ Đoàn Văn Huấn như một hình thức "cảm ơn".

Tại tỉnh Yên Bái, sau khi được cấp phép, Công ty Thái Dương đã không thực hiện đúng các quy định, đặc biệt là việc không tinh luyện quặng đất hiếm trước khi bán mà tiêu thụ quặng thô. Sở TNMT tỉnh Yên Bái biết rõ những sai phạm này nhưng không tổ chức thanh tra, kiểm tra hoặc có biện pháp xử lý kịp thời.

Năm 2021, khi Công ty Thái Dương làm thủ tục xin gia hạn giấy phép khai thác khoáng sản, Hồ Đức Hợp, khi đó là Giám đốc Sở TNMT tỉnh Yên Bái, đã báo cáo không trung thực với UBND tỉnh, che giấu sai phạm của doanh nghiệp. Điều này đã khiến công ty tiếp tục khai thác trái phép đất hiếm.

Vụ án này không chỉ làm lộ ra những sai phạm nghiêm trọng trong quản lý tài nguyên khoáng sản mà còn cho thấy sự thiếu trách nhiệm của một số cá nhân trong việc thực thi pháp luật. Việc truy tố các bị can là bước đi cần thiết để đảm bảo công lý và răn đe những hành vi tương tự trong tương lai. Tuy nhiên, vụ việc cũng đặt ra câu hỏi về cơ chế giám sát và quản lý tài nguyên thiên nhiên, cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn để ngăn chặn những thất thoát và lãng phí tài sản quốc gia.

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

VOA đừng hợm hĩnh mượn mấy đồng kiều hối hòng nói xấu Đảng



Năm 1010, đức vua Lý Thái Tổ ban Chiếu dời đô, khẳng định khát vọng đưa Đại Việt vào thế rồng bay lên cao xanh. Đó là thông điệp thiên niên kỷ, nay đang tỏa rạng.

Năm 1920, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm thấy nguồn ánh sáng chân lý thời đại thông qua Luận cương của Lê nin, Người rút ra kết luận lịch sử: chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản, do đảng vô sản chân chính lãnh đạo thì mới có thể giải phóng dân tộc khỏi ác nô lệ. Từ đó, Người truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê nin vào Việt Nam, là một trong những tiền đề quyết định đưa đến sự thành lập ĐCSVN vào 95 năm trước. Sự ra đời của ĐCSVN là nhân tố tiên quyết đưa dân tộc Việt Nam bước vào những kỷ nguyên vươn tầm thời đại.

***

Mỗi năm Tết đến Xuân về, Việt Kiều lại có dịp thể hiện lòng hiếu từ với bà con quê nhà; năm nay có 100 đại diện Việt Kiều về nước tham dự Chương trình Xuân quê hương, trực tiếp cảm nhận tình cảm chân thành của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đồng bào trong nước, tận mắt chứng  kiến diện mạo đất nước đổi thay theo chiều hướng tích cực, tự hào và có thêm động lực đóng góp cho đất nước bước tới đài vinh quang. Bên cạnh đó, những người con xa xứ, dù có hoàn cảnh khác nhau khi rời quê hương bản quán ra nước ngoài định cư, làm ăn sinh sống, cũng tổ chức nhiều hoạt động cộng đồng sinh động, sum vầy, hoài niệm truyền thống Tết cổ truyền dân tộc. Một bộ phận người Việt ở nước ngoài đã dành một món tiền bằng sức lao động của mình gửi về để giúp người thân ở quê nhà, lấy đó thêm nguồn sinh kế, kể cả tiêu dùng và đầu tư sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống. Theo thông tin chưa chính thức, lượng kiều hối năm nay chảy về Việt Nam dự ước khoảng 16 tỷ đô la, tương đương năm 2023 hoặc có thể nhỉnh hơn chút đỉnh, trong đó TP. Hồ Chí Minh chiếm khoảng 2/3. Lượng kiều hối tăng và ổn định qua mỗi năm là niềm vui không chỉ đối với người thân của Việt Kiều, mà còn là niềm vui chung cho cộng đồng xã hội, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới và kinh tế trong nước đứng trước nhiều khó khăn, thách thức bởi bất yên, bất ổn, xung đột vũ trang, nguy cơ chiến tranh thế giới, thiên tai. Tuy nhiên, vào ngày mùng 2 Tết, VOA lại bày trò “Hội lụn” với tiêu đề: Việt Nam nhận hàng cục tỷ đôla kiều hối; và kỷ nguyên vươn mình dân tộc. Theo đó, có 5 nhân vật làm trò tung hứng chính trị: Quốc Phương, Song Chi, Lê Minh Nguyên, Nguyễn Viện, Nguyễn Tường Tuấn. Nội dung “Hội lụn” tưởng như tập trung bàn tới lượng kiều hối có ý nghĩa tích cực thế nào, nhưng họ lại cố tình mượn cớ để công kích ĐCSVN, bôi nhọ chế độ cộng sản, hạ uy tín ông Tô, phả khói độc vào khát vọng tương lai dân tộc Việt Nam.

Trước những lời nói thiếu tính tích cực, thiếu tính xây dựng, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đối với Việt Kiều, tôi thấy cần phản bác để lấy lại sự công bằng lịch sử.

1. Sau ngày 30/4/1975 đến trước đổi mới, Việt Nam gặp muôn vàn khó khăn, thách thức. Đây là qui luật của lịch sử, vì nước nào khi đi qua chiến tranh vệ quốc thì đều phải trải qua một thời gian ổn định chính trị, ổn định xã hội, khôi phục kinh tế, tăng cường quốc phòng, an ninh, thiết lập quan hệ đối ngoại. Việt Nam đi qua 21 năm chiến tranh vệ quốc, khiến cho nội lực quốc gia bị vắt kiệt, song lại ngay lập tức phải đối mặt với 2 cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới ở 2 đầu Tổ quốc, phải thực hiện nghĩa vụ quốc tế, giúp nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng. Trong khi đó, sự chi viện của bên ngoài không còn, lại thêm bao vây, cấm vận do nhà cầm quyền Mỹ chủ trò, kéo dài tới 20 năm. Có một bộ phận người Việt Nam (chủ yếu là bộ phận từng sống dưới chế độ Mỹ – Ngụy) đã không đủ sức chịu nhiệt lịch sử, họ đã tìm đường ra nước ngoài, có những người đi hợp pháp, có nhiều người đi chui. Thực tế đó thật đáng buồn, đau lòng vì không phải ai ra đi cũng may mắn, đến được miền đất hứa; chưa kể còn có một bộ phận bị lôi kéo, hứa hão “sẽ có ngày trở về khôi phục giấc mơ dân chủ” tại nơi được mệnh danh là “hòn ngọc viễn Đông”. Nói một cách khách quan là các thế lực thù địch liên kết triệt phá cách mạng Việt Nam, hòng làm tiêu tan ý chí đi lên CNXH của Đảng và Nhân dân Việt Nam, quật đổ nước Việt Nam. Trước tình thế vạn cân treo sợi tóc, ĐCSVN quyết không nao núng tinh thần cách mạng, được Nhân dân tuyệt đối tin tưởng hưởng ứng, nên sự nghiệp đổi mới đi tới thành công như hôm nay. Thành tựu đổi mới có tính lịch sử đã mang lại cơ đồ dân tộc như ngày nay trước hết thuộc về công lao của những ai một lòng sắt son theo Đảng, tận tâm cống hiến, dựng xây non nước nhà. Những ai đã ra đi bằng cách này hay cách khác bởi lý do “không muốn hợp tác với chế độ cộng sản” thì họ đã có cuộc sống mới ở quê hương thứ 2, một chút kiều hối gửi về cũng không thể thay đổi tầm vóc dân tộc này. Đừng dựa đó mà ban ơn; càng không được phép nói rằng người được hưởng lợi từ kiều hối là ĐCSVN. Trong 40 năm qua, nếu không có đổi mới thì sống bằng sự hà hơi tiếp sức của Việt kiều hay sao. Còn như ai đó thiển cận cho rằng, ngày xưa thì “xua đuổi”, ngày nay thấy có lợi thì ngợi ca, “lôi kéo”. Nói như thế là cố tình kích động, làm tổn hại đến lòng người xa xứ, vong bản với quê hương bản quán. Đất nước trong khổ đau, có một phần khách quan bởi kẻ ngoại bang dày xéo tận diệt, bởi một bộ phận mất lương tri theo đuôi rắn cắn gà nhà. Dân tộc Việt Nam vốn giàu lòng hiếu sinh, biết gác lại hận thù, cấp thuyền lương cho tàn binh hồi hương, trả gươm thần để kiến tạo hòa bình. Một dân tộc biết đùm bọc người cùng một cội, hướng về Đất Tổ thì không phải một dân tộc mang dòng máu phân ly. Mấy vị nói xấu nước nhà nên tự vắt tay lên trán mà nghĩ, đừng cố chấp mãi như thế, đâu phải là bậc trí thức cao đạo.

2. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam được ông Tô Lâm nêu lên gần đây là thể hiện khát vọng của ĐCSVN đưa dân tộc Việt Nam vươn lên tiến cùng thời đại. Trên thế gian này, từ thượng cổ tới hiện đại, loài người luôn biết vươn ra ánh sáng, thoát khỏi hang hốc, săn bắt, hái lượm, trồng trọt, chăn nuôi để sinh tồn và thay đổi tầm nhìn với thế giới bên ngoài, dựng xây tương lai bằng khối óc và đôi tay, biết nương tựa vào nhau để tăng sức mạnh. Hãy hình dung, nếu như thời bầy đàn nguyên thủy, loài người cứ bám ghì tứ chi xuống mặt đất, không dám ngẩng mặt lên, chẳng ai dám tự đứng trên 2 chi sau, vươn mình đứng thẳng dần dần, thì làm sao nhân loại có được dáng đứng thẳng như ngày nay. Lịch sử đã từng có những cộng đồng bị chiến tranh giữa các bộ lạc, gặp thiên tai, bị khan hiếm nguồn nước và nguồn lương thực, buộc phải tiến hành nhiều cuộc thiên di, nhằm tìm tới miền đất có môi trường sống tốt hơn. Nước Đức ngày nay là thành quả hàng ngàn năm công lao của tộc người Giéc manh kéo đến định cư, nước Pháp ngày nay cũng là thành quả lịch sử bởi tộc người Gôloa di cư đến. Đế quốc Mông –Nguyên từng hùng mạnh hàng đầu thế giới thời trung cổ, nhưng cũng mau chóng suy vong. Quốc gia Phù Nam cũng từng như triều dâng ở Đông nam Á, nhưng cũng như nước thủy triều rút xuống suy tàn. Người Do Thái từng một thời hùng mạnh ở Trung Đông, song đã tự suy tàn rồi tản mát ở nhiều nơi, nhân đó người Palextin di cư đến làm chủ nhân mới; trong chiến tranh thế giới thứ 2, người Do Thái bị phát xít Đức diệt chủng, được Hồng quân Liên Xô cứu thoát, may sau đó được Liên hợp quốc xác lập một phần đất trên lãnh thổ của Palextin, từ đó khiến Trung Đông trở thành thùng thuốc nổ. Nói như vậy để thấy, sự hưng thịnh của mỗi quốc gia là một tất yếu, theo qui luật lịch sử, nhưng nếu dân tộc nào có khát vọng, biết đồng cam cộng khổ để sinh tồn, phát triển thì ắt sẽ có được tương lai tươi sáng. Dân tộc Việt Nam vốn giàu tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường, đó là phù sa cho những mùa vàng lịch sử. Những người gắn bó trọn đời với quê hương, đất nước hay những người vì điều kiện nào đó mà di tản, di cư ra nước ngoài thì vẫn biết lưu giữ văn hóa truyền thống, coi đó như sợi giây vô hình níu kéo lòng người. Người Việt xa xứ, vẫn biết hướng tâm về quê hương, đất nước, với việc tổ chức các hoạt động vui xuân để tái hiện và hồi tưởng hình ảnh quê hương đất nước…, điều này thật trân quí. Họ là một phần máu thịt của đại gia đình dân tộc Việt Nam, trong khát vọng vươn mình của dân tộc chắc chắn hợp lòng người với bất kỳ ai là người Việt Nam còn nặng nghĩa, nặng tình với đất mẹ ngàn năm linh thiêng. Mấy ông bà tham gia “Hội lụn” nêu trên tỏ ý hoài nghi khát vọng vươn mình dân tộc của ông Tô, có ý chọc gậy bánh xe, càng cho thấy tâm địa thiếu thiện ý, thiên về hậm hực với quá khứ, bài xích chính trị. Sau 95 năm lãnh đạo cách mạng, nhất là 40 năm đổi mới, dân tộc Việt Nam đang đứng trước thời cơ mới, vận hội mới. Tính nhạy cảm chính trị của ĐCSVN trong các thời điểm lịch sử là tiền đề giúp cho ĐCSVN tự quyết chính trị, dẫn lối đưa dân tộc Việt Nam tiến tới tương lai hùng cường. Tất nhiên, muốn vươn mình bước vào kỷ nguyên mới thì dân tộc Việt Nam phải có đầy đủ các điều kiện về nguồn lực tổng hợp, đó là kinh tế đủ mạnh, chính trị kiên định, quốc phòng, an ninh vững chắc, đối ngoại đa phương, văn hóa giữ được bản sắc, xã hội ổn định, con người trí tuệ, nhiệt huyết, dù ở nơi đâu cũng hướng về Tổ quốc. Không thể thiếu nguồn lực từ một bộ phận người Việt đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài, nhất là khoảng 600 ngàn trí thức đang định vị trên các lĩnh vực khoa học tầm cỡ quốc tế, và với khoảng hơn 5 triệu người Việt ở nước ngoài, họ vừa đóng góp vào sự phát triển của nước sở tại, vừa góp phần vào sự phát triển chung của dân tộc.

Mấy người tham gia “Hội lụn” lần này có ông Nguyễn Viện phát biểu có những điều mềm mỏng hơn, còn bà Song Chi thì tỏ ra chế nhạo cười mỉa, ông Nguyễn Tường Tuấn thì hậm hực cay cú, ông Lê Minh Nguyên thì lan man, còn Quốc Phương thì khới chuyện, có một điểm chung ở mấy người là lạc đề có chủ đích chính trị, hòng bôi bùn vào bàn thờ Tổ quốc trong dịp Tết. Trong lịch sử, từng có những thế lực ngoại bang phong kiến phương Bắc theo đuổi tham vọng biến Việt Nam thành quận, huyện; thời hiện đại còn có thế lực tuyên bố đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá…, nhưng hiện thực lịch sử đã chứng minh điều ngược lại.

***  Hôm nay (3/2/2025), đúng dịp kỷ niệm 95 năm ĐCSVN ra đời, nhân dịp này, ông Tô Lâm có bài viết “Rạng rỡ Việt Nam”, vừa mang tính tổng kết truyền thống vinh quang của Đảng 95 năm qua, vừa khích lệ tinh thần dân tộc Việt Nam  chung sức đồng lòng nuôi dưỡng khát vọng chính đáng của mình. Kiều hối tăng, người thân của chủ nhân gửi tiền được thụ hưởng, cộng đồng xã hội có thêm nguồn lực tài chính, Đảng, Nhà nước cũng thấy vui vì dân mình còn biết thương quí nhau, còn nhớ đến cội rễ. Đó là tiền đề văn hóa để mơ lớn, vươn cao.

“Có mắt như mù”!


Nhân việc Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 147/2024/NĐ-CP  về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; có hiệu lực thi hành từ ngày 25/12/2024, các tổ chức, cá nhân phản động, cơ hội chính trị lại giờ chiêu trò cũ rích, vu cho Việt Nam xâm phạm quyền con người, quyền tự do ngôn luận, nhằm bôi nhọ thể chế chính trị, hệ thống pháp luật Việt Nam. Hành động của chúng thực là “Có mắt như mù”!

Cần khẳng định rõ, những thành tựu bảo đảm quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của Nhà nước Việt Nam là không thể phủ nhận cả về khía cạnh pháp lý, hiện thực cuộc sống.

Về pháp lý, Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) của nước Việt Nam quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đã ban hành các luật: Luật Báo chí; Luật tiếp cận thông tin; Luật an toàn thông tin mạng,…; đồng thời, Chính phủ đã bạn hành các văn bản luật, nhằm cụ thế hoá, hướng dẫn công dân thực hiện các quyền theo quy định của các luật và đạo luật gốc: Hiến pháp. Điều này, là nhằm thực hiện Điều 19, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”.

Vậy, Nghị định 147/2024/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam quy định biện pháp thi hành việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, bao gồm: Dịch vụ Internet, tài nguyên Internet; Thông tin trên mạng; Cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động; Giám sát thông tin và ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật trên mạng. Đối tượng áp dụng là với tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng. Đó là những quy định nhằm đảm bảo quyền con người, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Như vậy, khung pháp lý của Việt Nam là đầy đủ, đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế về quyền con người.

Hiện thực cuộc sống đã chứng minh rằng, ở Việt Nam, quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,… được đảm bảo ngày càng tốt hơn. Vừa qua, Việt Nam  và Mỹ đã tổ chức đối thoại Nhân quyền lần thứ 28 – hoạt động thường niên, được chính phủ hai nước tổ chức đánh giá rõ kết quả bảo đảm, thực thi nhân quyền của mỗi bên. Hai bên đã thảo luận về nhiều vấn đề nhân quyền, bao gồm việc thực hiện các khuyến nghị được đưa ra trong Đánh giá Định kỳ Phổ quát (UPR) của Liên Hiệp quốc về Việt Nam và đạt được những kết quả quan trọng. Ngay sau đó, phía Mỹ ra thông cáo cho biết cả hai nước cam kết tăng cường hợp tác thông qua các cuộc đối thoại và trao đổi có hiệu quả. Bên cạnh đó, tháng 9/2024, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã thông qua kết quả rà soát UPR chu kỳ IV đối với Việt Nam. Trong đó, Việt Nam quyết định chấp thuận 271 trên tổng số 320 khuyến nghị các nước đưa ra tại Phiên đối thoại về báo cáo quốc gia vào tháng 5/2024, đạt tỷ lệ 84,7%, và tái khẳng định cam kết và chính sách nhất quán về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đồng thời, tiếp tục tăng cường khuôn khổ pháp luật về quyền con người, thông qua ban hành, sửa đổi một số văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Các tiến bộ của Việt Nam về hoàn thiện thể chế, pháp luật về quyền con người, phát triển kinh tế-xã hội, đổi mới sáng tạo, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và quyền các nhóm dễ bị tổn thương… đã được nhiều nước ghị nhận và hoan nghênh khuyến khích những nỗ lực và thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, đặc biệt trong bối cảnh phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức .

Thực tế cho thấy, ở Việt Nam  quyền học tập, lao động và việc làm, thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát triển mạnh mẽ, với hệ thống trường học công lập, tư lập từ giáo dục mầm non đểu tiểu học, trung học cơ sở, trung học, đại học đã tạo điều kiện tối ưu cho công dân được học tập, trưởng thành và phát triển. Cùng với đó, hệ thống các công ty sản xuất lớn, nhỏ của trong nước, ngoài nước và hệ thống thương mại, dịch vụ từ thấp đển cao phát triển mạnh mẽ đã tạo điều kiện cho sự phát triển sản xuất, lao động và việc làm. Năm 2024, vượt qua những khó khăn, thách thức, Việt Nam đã thực hiện thành công 15/15 mục tiêu đề ra; GDP tăng trưởng 7,09%; đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt,… Cũng chẳng ngoa khi thế giới ca ngợi Việt Nam là “Rồng Vàng” đang vươn lên mạnh mẽ; các nhà đầu tư quốc tế lớn, có uy tín đều coi Việt Nam là điểu đến đầu tư hấp dẫn. Về tự do internet, tự do ngôn luận, báo chí, ở Việt Nam internet phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng rộng rãi trên mọi khía cạnh của cuộc sống,… Năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng Internet, chiếm 79,1% tổng dân số; số lượng người dùng mạng xã hội cũng đạt 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số; tổng số kết nối di động đang hoạt động là 161,6 triệu, tương đương với 164,0% tổng dân số. Dữ liệu này cho thấy Việt Nam có tổng số người dùng Internet và mạng xã hội đáng kể, cùng với số lượng kết nối di động vượt quá tổng dân số Không gian mạng cùng với các loại hình báo viết, báo hình, báo nói, báo điện tử,… đã trở thành diễn đàn của mọi tổ chức, cá nhân góp sức vào xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nơi phổ biến kiến thức hữu ích. Tuy nhiên, đây cũng là “mảnh đất mầu mỡ” để các tổ chức, cá phân phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để phát tán thông tin thất thiệt, xuyên tạc, bôi nhọ chế độ; hoặc giả mạo tài khoản, đánh cắp thông tin để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, khủng bố tinh thần, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội và của người dân.

Như thế, việc Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 147/2024/NĐ-CP là tất yêu khách quan, là cần thiết, nhằm xây dựng một môi trường lành mạnh, hữu ích để bảo vệ quyền con người, ngăn chặn những hành vi lệch chuẩn trên không gian mạng, gây hại đến tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia – dân tộc. Điều này hoàn toàn phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia, cũng như thực tiễn pháp lý ở nhiều quốc gia trên thế giới. Chỉ những kẻ “Có mắt như mù” mới không thấy./.

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2025

Phê phán quan điểm: chế độ một đảng không thể chống tham nhũng thành công



Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 của Việt Nam: Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Mặc dù trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về tham nhũng của các tổ chức, quốc gia khác nhau, song đều thống nhất với 3 đặc trưng: Tham nhũng là hành vi của người có chức, có quyền; có sự lợi dụng, lạm dụng quyền hành được giao; nhằm vụ lợi. Tham nhũng là một vấn đề nan giải, một căn bệnh nhức nhối với những biến dạng rất phức tạp, đang hoành hành trên nhiều lĩnh vực, gây ra những hậu quả tiêu cực ở các quốc gia với chế độ xã hội khác nhau. Vì vậy, đấu tranh chống tham nhũng được các nước, trong đó có Việt Nam rất quan tâm, coi đó là quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước và được thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp, trên nhiều phương diện, như: pháp luật, hành chính, chính trị, kinh tế, đạo đức, văn hóa, lối sống.

Trong suốt quá trình lịch sử hình thành và phát triển của nước Việt nam dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta diễn ra rất quyết liệt, không có vùng cấm, không kể cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, tham nhũng vật chất hay tham nhũng quyền lực. Nổi bật trong đó là “Chiến dịch đốt lò” do cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khởi xướng từ năm 2013 trên cương vị Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực Đảng Cộng sản Việt Nam. Chiến dịch đốt lò là biệt danh và cụm từ không chính thống được dư luận sử dụng rộng rãi để chỉ chiến dịch chống tham nhũng quy mô lớn. Chiến dịch ‘đốt lò’ này được các nhà quan sát cho là một nỗ lực của Đảng trong việc giành lại quyền lực và uy thế cũng như củng cố lòng tin của người dân vào chính quyền và sự lãnh đạo của đảng. Chiến dịch đốt lò vẫn được TBT Tô Lâm tiếp tục sau khi ông Trọng qua đời vào tháng 7 năm 2024. Những kết quả đạt được trong cuộc đấu tranh này đã tạo cơ sở, nền tảng vững chắc trong xây dựng hệ thống chính trị, môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, củng cố được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, cuộc chiến chống tham nhũng vẫn còn những vấn đề bất cập, chưa ngăn chặn được triệt để vấn nạn này. Lợi dụng vấn đề đó, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội tăng cường chống phá, công kích, xuyên tạc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chúng cho rằng “chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tham nhũng; tham nhũng là thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”; “hoạt động phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay “chỉ là để mị dân”. Thậm chí, một số các trang tin tức phương Tây chống cộng nổi tiếng như BBC News tiếng Việt, RFA, RFI lợi dụng thành quả của khoa học kỹ thuật, mạng internet đã ra rất nhiều loạt bài nhằm kích động sự hoài nghi của độc giả về công cuộc chấm tham nhũng của ĐCS Việt Nam như ngày 24/6/2022, Đài Á châu tự do (RFA) đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: thay đổi thể chế” xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta; trong đó, họ nêu câu hỏi mang tính kích động chính trị, rằng: “Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?” hay trên BBC rằng “Việt Nam càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng nhiều, bởi đó là căn bệnh kinh niên của thể chế chính trị một đảng cầm quyền”. Chúng còn mạnh miệng đòi Việt Nam sửa đổi Hiến pháp năm 2013, sửa đổi thể chế Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo mô hình “tam quyền phân lập” để đảm bảo sự minh bạch trong xã hội. Nhìn qua các luận điệu trên, chúng ta có thể thấy âm mưu rất thâm độc của bè lũ phản động, cơ hội chính trị nhằm cố tình phê phán vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; phủ nhận sự tồn tại của Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, bẻ lái con đường phát triển của Việt Nam theo hướng tư bản chủ nghĩa; xuyên tạc thành quả của cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và gây nên nguy cơ bất ổn về chính trị trong xã hội.

Tuy nhiên, thực tế lịch sử và lý luận đã chứng minh điều hoàn toàn ngược lại. Về mặt lý luận, tham nhũng là một phạm trù lịch sử. Nó xuất hiện ngay khi có sự phân chia giai cấp và sự hình thành Nhà nước và xuất hiện ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Tệ nạn tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực; ở đâu có quyền lực, ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng, một khi quyền lực bị lạm dụng. Nên luận điểm coi tham nhũng là “căn bệnh kinh niên” của chế độ xã hội chủ nghĩa, của chế độ một đảng cầm quyền và “chế độ một đảng không chống được tham nhũng” là hoàn toàn sai về lý luận. Về mặt thực tiễn, theo đánh giá của Tổ chức minh bạch quốc tế (TI), một số nước theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền, như: Colombia, Malaysia, Thái Lan, Indonesia… thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng”

Thực tế cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ phẩm chất, bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo chống tham nhũng hiệu quả. Vấn đề chống tham nhũng luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhất là những vụ án nghiêm trọng được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh. Theo Báo cáo tổng kết 10 năm của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, giai đoạn (2012 – 2022), các cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã xử lý 2.740 tổ chức đảng/167.700 cán bộ, đảng viên,  có 7.390 đảng viên bị kỷ luật vì tham nhũng; kỷ luật 170 cán bộ trực thuộc trung ương, trong đó có 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 ủy viên Trung ương Đảng và nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; 50 tướng của lực lượng vũ trang. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến cuối năm 2023, đã thi hành kỷ luật 105 cán bộ diện Trung ương quản lý; trong đó, có 22 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, tiến hành tạm giữ, kê biên, phong tỏa, thu hồi tài sản trị giá hơn 234 nghìn tỷ đồng. Những nỗ lực của Việt Nam đã được cộng đồng thế giới ghi nhận một cách tích cực, Tổ chức Minh bạch quốc tế đã công bố Chỉ số cảm nhận tham nhũng năm 2022, Việt Nam đạt 42/100 điểm, xếp hạng 77/180 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 3 điểm và 10 bậc so với khảo sát năm 2021 và tăng 6 điểm, 27 bậc so với năm 2020.

Qua những phân tích trên của tác giả, chúng ta có thể thấy luận điệu “chế độ một đảng không thể chống tham nhũng thành công” là một luận điệu sai lầm, phản động, rất nguy hiểm gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và sự tồn tại của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN mà nhân dân ta đang ngày đêm xây dựng. Với quyết tâm chính trị cao, chủ trương, giải pháp khoa học, cuộc đấu tranh chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng nhất định giành thắng lợi. Điều đó xuất phát từ bản chất, năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam.