Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2023

Lối đi ngay dưới chân mình!

 Để trở về với đời thường, để được sống trong môi trường bình an của quê hương, đất nước mình, những phạm nhân đã từng phạm lỗi lầm, đã có hành động sai trái hãy tỉnh ngộ, biết nhận ra lẽ phải để cải tạo tốt, tìm lại đường về. Lối về ấy ngay trong suy nghĩ, trong sự nhận thức của mình, lối về ngay dưới bước chân chứ không phải trông đợi ở những tung hô của kẻ giảo hoạt “giải thưởng nhân quyền”, “nhà hoạt động cho dân chủ”…

Còn nhớ, phiên toà xét xử bị cáo Lê Trọng Hùng diễn ra ngày cuối cùng của năm 2021, khi mà cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo trình tự tố tụng thì số cơ hội bên ngoài chờ sẵn để “ném đá” tạo sóng dư luận, lấy cớ đẩy vụ án sang hướng khác để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Lời nói sau cùng của Lê Trọng Hùng trước toà, nội dung cho thấy bị cáo không ăn năn, hối cải mà vẫn ngoan cố chối tội, thậm chí còn mang tính kích động để những kẻ chống phá lấy cớ vu cáo.

Bị cáo Lê Trọng Hùng ngô nghê nói rằng, lẽ ra đã “trở thành đại biểu Quốc hội”, việc bị phạt tù là “ngăn cản sứ mệnh của tôi trong 5 đến 10 năm” và “tôi ở trại giam tôi vẫn gào ra, tôi buộc các anh quản giáo cắt tóc thật đẹp để hôm sau tôi đi bầu cử, thể hiện tôi đang bảo vệ tính chính danh của Nhà nước”…

III -Lối đi ngay dưới chân mình! -0
Bị cáo Phạm Thị Đoan Trang trước toà.

Những lời nói này cho thấy kiểu giả bộ tâm lý có vấn đề để nhạo báng trước công đường. Tuy nhiên, bị cáo hẳn đã quá ảo vọng, đến lời nói sau cùng là cơ hội để trấn tĩnh, cần biết hối lỗi nhìn ra sự thật thì vẫn tìm cách nói ngông để bấu víu sự can thiệp mơ hồ từ bên ngoài.

Cần nhớ rằng, luật pháp nghiêm minh nhưng cũng khoan dung, xử lý nghiêm kẻ phạm tội nhưng cũng khoan hồng cho những ai biết hối lỗi, biết nhận rõ sai lầm để tìm lại đường về. Toà cho nói lời sau cùng, không biết hối lỗi, sám hối, mà vẫn còn ảo vọng kiểu đó là đã tự tay mình chuốc thêm ngày rộng tháng dài trong trại cải tạo mà thôi. Đối tượng cuồng vọng như vậy, còn bên ngoài cũng đã có những chân rết sẵn sàng “đổ dầu đốt lửa”.

Một thành phần cổ suý đưa lên trang cá nhân, viết “có những người đi đấu tranh chưa về”; tôn sùng bị cáo Lê Trọng Hùng là “một công dân gương mẫu, người khát khao xây dựng một xã hội dân chủ công bằng văn minh thượng tôn pháp luật”; biến tấu hành động tội lỗi của bị cáo thành “Lê Trọng Hùng vô tội, những việc làm của Hùng chỉ giúp ích cho đất nước và nhân dân”.

Rồi liệt kê những kẻ bất hảo chống phá nhân dân “Hùng, Trang, chị Tâm, chị Thêu, chị Hạnh, Phương, Tư, những người bạn thân thiết của tôi, họ là những người công chính đi đấu tranh cho quyền lợi chung của tất cả chúng ta. Họ chưa về. Tất cả chúng ta đều đang mất tự do!”. Trong khi đó, tổ chức Nhà báo Không biên giới (RFS) như thường lệ, lại lên án bản án và “kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho ông Hùng ngay lập tức”.

Ông Daniel Bastard, người phụ trách Châu Á-Thái Bình Dương của RSF sau khi đánh lận bản chất vụ án thì giả bộ: “Bản án gây sốc 5 năm tù của Lê Trọng Hùng một lần nữa cho thấy hệ thống tư pháp Việt Nam hoàn toàn thiếu độc lập”. Cùng việc “lên án” thì RSF cũng tìm cách ngợi ca, vẽ nên một “người hùng” Lê Trọng Hùng khi “thường xuyên đưa tin về các vụ việc tham nhũng và trưng dụng bất hợp pháp và cung cấp thông tin pháp lý để giúp đỡ các nạn nhân. Ông Hùng là nhà đồng sáng lập kênh CHTV thứ hai trở thành nạn nhân bị đàn áp ở Việt Nam”.

Về vụ án này, ngày 31/12/2021, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt 5 năm tù đối với bị cáo Lê Trọng Hùng (tức Hùng “gàn”, SN 1979, trú tại phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, khoản 1, điểm a, b, c, Bộ luật Hình sự. Ngoài hình phạt tù, tòa còn tuyên phạt quản chế Lê Trọng Hùng 5 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Theo cáo trạng của VKSND Hà Nội, từ tháng 4/2020 đến tháng 9/2020, Lê Trọng Hùng đã tự làm, đăng tải phát trực tiếp 7 video clip lên mạng xã hội Facebook. Trong số đó, có 4 video clip chứa nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng. Tuy nhiên, lấy cớ bị cáo không nhận tội, các thế lực chống phá Việt Nam tô vẽ, tung hô đối tượng, giống như từng tung hô cho “ứng viên giải thưởng nhân quyền”.

Bằng việc tung hô các đối tượng với danh hão như “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “công dân yêu nước”..., thực chất là thủ đoạn để các thế lực thù địch hợp thức hóa việc cung cấp tiền bạc cho những kẻ được họ tiếp tay hoạt động chống Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam. Đồng thời, thông qua đó nhằm tiếp tục cổ súy, lôi kéo các đối tượng khác hoạt động phục vụ âm mưu chống phá. Cùng với việc rêu rao vi phạm nhân quyền, các đối tượng nhằm tạo sóng dư luận, gây sự chú ý từ quốc tế để bôi nhọ, xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, qua đó lấy cớ để gây sức ép, can thiệp vào tình hình trong nước.

Điều này cũng diễn ra như đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang hay các phạm nhân được “vinh danh” giải thưởng nhân quyền năm 2021 của Mạng lưới nhân quyền Việt Nam - VNHRN (Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư…). Được các đối tượng rêu rao, cổ suý, “tôn vinh” thì thực chất chỉ như những con rối, quân cờ, ra toà lĩnh án rồi chấp hành hình phạt nhưng bị kẻ địch bên ngoài mượn tên để điều khiển, vì động cơ chống phá đất nước.

Bởi vậy, chớ nên nghe xúi bẩy từ đâu mà nghĩ khác, làm khác để tự cho mình là “tù nhân lương tâm”, kiếm tìm ảo vọng ở trời Tây. Chẳng có “thiên đường” nào, chẳng có giải thưởng nào từ các thế lực chống phá bên ngoài giúp phạm nhân “đến với tự do, dân chủ”. Muốn trở về với tự do, dân chủ như công dân bình thường, điều trước mắt và quan trọng nhất là trót bước lạc đường thì nay chấp hành án trong trại giam thật tốt, hãy ăn năn hối cải, biết nhận ra lỗi lầm để cải tạo tiến bộ, sớm tìm lại con đường về với gia đình, sống có ý nghĩa trên đất nước, quê hương mình.

Nghĩ về những trường hợp lạc bước, sai đường, thật đáng trách khi có cả những người vốn có nhiều kinh nghiệm cuộc sống, có những cống hiến nhất định trong công tác trước đây. Như với Nguyễn Tường Thụy (sinh năm 1950 tại Nam Định) bị phạt tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự. Chấp hành án phạt tù trong trại giam, giờ Nguyễn Tường Thụy lại được tung hô “giải thưởng nhân quyền 2022”, thật khôi hài. Về bản chất vụ án, cáo trạng của VKS và quá trình xét xử tại phiên toà đã xác định rõ. Vấn đề là với người đọc trên mạng internet, cái tên Nguyễn Tường Thuỵ không phải xa lạ gì.

Nguyễn Tường Thụy cùng những cá nhân như Phạm Thành, Trần Đức Thạch vốn là “người quen” trên các trang viết chống phá Nhà nước, nhân dân. Một số bài viết trên trang mạng chống phá đã liệt kê những người này để quy rằng “Có một vài điểm chung của 3 nhà yêu nước, các ông đều thế hệ 5X”, từ đó nại lý do yêu nước nên “hành động theo bản năng”. Nhiều bài còn cổ suý với những câu từ xuyên tạc, xảo trá như: “Chính họ là những người hiểu hơn ai hết về chế độ cộng sản. Họ biết rõ ngày nào đất nước còn bị cai trị bởi một chế độ độc tài cộng sản thì người dân sẽ không bao giờ được hưởng các quyền căn bản của con người, và chủ quyền đất nước sẽ bị lâm nguy. Chính vì vậy mà họ đã hành động!”.

III - Lối đi ngay dưới chân mình! -0
Bị cáo Nguyễn Tường Thụy tại tòa 

Trên mạng, ông Thụy tung ra các bài viết, các luận điệu đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, câu kết với các tổ chức chống phá bên ngoài, gây bất ổn cho xã hội. Lẽ ra, với quá khứ ít nhiều có cống hiến, ông Nguyễn Tường Thụy phải là người hiểu phải làm gì cho phải đạo. Còn nhớ, tại Lễ kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, người xem buổi truyền hình trực tiếp thực sự xúc động trước phát biểu của ông Nguyễn Văn Đoàn, nguyên cận vệ Bác Hồ.

Ông Đoàn sinh năm 1947, hơn tuổi ông Thụy. “Những tháng năm cùng đồng đội được phục vụ, bảo vệ Bác Hồ, cũng là ngần ấy thời gian với những kỷ niệm thiêng liêng của tôi về Người, là những trang đẹp nhất, may mắn và hạnh phúc nhất trong cuộc đời tôi” - ông Đoàn bày tỏ. Ông Nguyễn Văn Đoàn kể lại: Nhớ lại buổi đầu được nhận nhiệm vụ, ông cùng đồng đội được đồng chí Vũ Kỳ (thư ký riêng của Bác) và đồng chí Hoàng Hữu Kháng (Cục trưởng Cục 22 - Bộ Công an) ân cần căn dặn nhiều điều và nhấn mạnh: “Nhiệm vụ của các đồng chí là rất đặc biệt, trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, rất vinh dự, nhưng cũng khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực và trách nhiệm cao...”.

III - Lối đi ngay dưới chân mình! -0
Ông Nguyễn Văn Đoàn phát biểu tại Lễ mít tinh kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020)

Chúng tôi luôn tâm niệm: “Phải làm thật tốt, không được có sai sót, dù là nhỏ và nhất là không để Bác phiền lòng. Chúng tôi thật may mắn, hạnh phúc vì đã được phục vụ Bác Hồ, trong đó có những chuyến được theo Bác đi công tác, qua đó cảm nhận được tình cảm, nhân cách cao đẹp, cuộc đời giản dị,... của vị lãnh tụ đã dành trọn cuộc đời vì nước, vì dân”. Trước Lễ mít tinh, người cận vệ năm xưa xúc động chia sẻ: “Tôi luôn cố gắng phấn đấu thực hiện tốt lời Bác dạy. Hơn nữa, là một trong số ít người may mắn được lựa chọn vào làm cảnh vệ cho Bác Hồ, tôi luôn tự nhủ mình phải không ngừng rèn luyện, xứng đáng với sự tin cậy của cấp trên, xứng đáng với Bác và xứng đáng với truyền thống của những người con cố đô nghìn năm văn hiến”.

"Tôi luôn tự nhủ mình phải không ngừng rèn luyện, xứng đáng với sự tin cậy của cấp trên, xứng đáng với Bác và xứng đáng với truyền thống của những người con cố đô nghìn năm văn hiến"

                 (Ông Nguyễn Văn Đoàn) 

Cùng một thế hệ như ông Đoàn, cũng ở mảnh đất kinh kỳ, trải qua những năm tháng gian nan thử thách của đất nước do chiến tranh, rồi thời kỳ bao cấp đói khổ, vậy mà ông Thụy lại tự chuyển hoá, rẽ ngược lối, ngược đường, chống lại sự nghiệp phát triển đất nước, chống lại chính những tâm huyết của những người từng đồng cam cộng khổ. Giờ đây, đã trót sai bước, lạc đường nhưng lỗi lầm ấy vẫn có thể được cải sửa. “Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, luật pháp vẫn luôn mở rộng với người lầm lỗi để nhận thức, tu chỉnh lại, để cải tạo mà tìm đường về. Đường về ấy sẽ thật gần nếu đó là sự tu chỉnh, ăn năn.

Đường về ấy, có quê hương, có những người thân đang ngóng đợi và chẳng những đường về là sự bước về với chính bản thân mình mà còn là cái để cháu con, người thân nhìn vào đó không thấy ái ngại, không thấy xấu hổ.

Đường về ấy không có trong các mỹ từ mà những kẻ giảo hoạt đã, đang tung hô, không có sau cái gọi là “đấu tranh dũng cảm cho nhân quyền”, “giải thưởng nhân quyền”, “nhà hoạt động cải cách”…

Đường về ấy, lối đi ấy ngay dưới chân mình, hãy nhìn lại và hành động./.

M.Đ

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2023

Phê phán quan điểm cho rằng: Ngày nay giai cấp tư sản không còn bóc lột công nhân mà “bóc lột máy móc”?!

 

 BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY

Ngày nay, với sự phát triển nhanh, mạnh của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, máy móc và các thiết bị robot đã dần thay thế con người trong lao động sản xuất; nhiều nhà máy, xí nghiệp máy móc còn giữ vai trò quan trọng, khiến cho lực lượng lao động thuyên giảm. Lợi dụng vấn đề này, thời gian qua, có quan điểm cho rằng, giai cấp tư sản không còn bóc lột công nhân mà “bóc lột máy móc”. Có thể nhận thấy, đây là cách đánh tráo khái niệm, làm cho mọi người lầm tưởng là giai cấp tư sản là tiến bộ, không còn bóc lột công sức của người lao động, từ đó phê phán chế độ xã hội chủ nghĩa. Tre Việt cho rằng, quan điểm hoàn toàn phi lý, bởi:

Thứ nhất, hiện nay trong các nhà máy, xí nghiệp, việc hiện đại hóa các trang thiết bị, mãy móc sản xuất là nhu cầu tất yếu, nhờ máy mọc và các thiết bị hiện đại mà sản phẩn được làm ra nhiều hơn, từ đó mang lại nguồn thu cho các nhà máy, xí nghiệp; đồng thời cũng giảm bớt hoạt động chân tay của người lao động. Điều đó gây ra một quan niệm sai lầm, phi lý là máy móc cũng tạo ra giá trị thặng dư và giai cấp tư sản không bóc lột công nhân mà bóc lột máy móc. Tuy nhiên, máy móc dù có hiện đại đến đâu cũng cần đến người công nhân “hà hơi”, “tiếp sức”, máy móc không tự nó chạy được mà phải có người cho nó chạy, phải theo dõi quá trình vận hành để xử lý các sự cố. Nói cách khác, nếu không có người công nhân giám sát điều hành thì máy móc cũng không thể hoạt động, khi đó máy móc, thiết bị cũng chỉ là đống sắt vụn. Do đó, giá trị thặng dư nhìn bên ngoài có nhiều người lầm tưởng là máy móc tạo ra nhưng thực chất giá trị thặng dư mà các nhà máy, xí nghiệp được hưởng lại do người công nhân, những người lao động chân chính tạo ra.

Thứ hai, đúng là trong giai đoạn tự động hóa, sức lao động của người công nhân được giảm một cách đáng kể, máy móc không những thay thế lao động cơ bắp mà còn thay thế cả một phần lao động trí óc của con người. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng sản xuất tự động hóa không phải dùng ít lao động chân tay đến mức như người ta tưởng, thậm chí còn nhiều hơn. Thực tế xã hội hiện đại ngày nay, nhờ máy móc mà các lao động cơ bắp được giảm, nhưng số người lao động phải đi làm thuê trong các nhà máy, xí nghiệp cho các ông chủ tư sản vẫn cứ tăng lên. Phải chăng các nhà tư bản hiện đại phải chi trả tiền lương cho công nhân quá lớn nên họ lựa chọn các địa điểm đầu tư tại những khu vực công nhân vừa có tay nghề cao, lại vừa trả tiền công thấp, rồi từ đó cho rằng máy móc tạo ra giá trị thặng dư.

         Luận điểm "máy móc tạo ra giá trị thặng dư và giai cấp tư sản bóc lột máy móc” là một cách nói cường điệu, có dụng ý. Trong đời sống hiện thực, người ta thấy xí nghiệp nào sử dụng máy móc hiện đại thì năng suất lao động cao hơn và nhờ đó thu được lợi nhuận nhiều hơn. Điều đó gây ra một cảm tưởng sai lầm là máy móc cũng tạo ra giá trị thặng dư và giai cấp tư sản không bóc lột công nhân mà bóc lột máy móc. Vậy, máy móc có tạo ra giá trị thặng dư không? Cũng như mọi bộ phận cấu thành khác của tư bản bất biến, máy móc không tạo ra giá trị thặng dư, mặc dù đó là nhân tố không thể thiếu của bất cứ quá trình sản xuất hiện đại nào. Máy móc dù có hiện đại đến đâu nếu không có lao động sống của người công nhân “hà hơi”, “tiếp sức”, “cải tử hoàn sinh” thì cũng chỉ là “vật chết” mà thôi. Máy móc không tự nó chạy được mà phải có người cho nó chạy, phải theo dõi quá trình vận hành của nó để xử lý những sự cố trực trặc về kỹ thuật… Nói một cách khác, tự động hóa nhưng vẫn phải có lao động sống của người công nhân làm nhiệm vụ giám sát, điều hành. Hơn thế nữa, để cho dây chuyền tự động hoạt động, xí nghiệp cần phải có một bộ máy nhân viên lo đầu vào của sản xuất, tiếp nhiên liệu đúng thời hạn… lo đầu ra của sản phẩm, quảng bá, tiếp thị, tiêu thụ. Như vậy, với nhà máy tự động hóa, sự phân bổ lao động trong nội bộ nhà máy thay đổi theo hướng phần lao động trực tiếp đứng máy, sản xuất ra sản phẩm giảm đi nhưng phần lao động dịch vụ cho việc sản xuất sản phẩm lại tăng lên.

Vậy nên, không có chuyện máy móc thay thế người lao động tạo ra giá trị thặng dư và “luận điểm giai cấp tư sản bóc lột máy móc” là hoàn toàn phi lý./.

 

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

Việt Tân: Ngu dốt hay lại âm mưu gì nữa?

 Vừa qua, Việt Tân và một số đối tượng phản động lưu vong khác sử dụng chiêu trò giật tít độc, lạ kiểu “phát hiện lịch sử…” nhằm thu hút cộng đồng mạng quân tâm nhưng nội dung hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc hạ uy tín đồng chí Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.


Gần đây nhất, Việt Tân đăng bài viết với tựa đề “VỤ NÀY CÓ THẬT KHÔNG TA?” với nội dung hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc Tổng Bí thư gian dối trong khóa luận tốt nghiệp năm 1967 khi ghi tên giảng viên hướng dẫn là GS. Đinh Gia Khánh trong khi một nguồn tin khác thể hiện rằng năm 1980 thầy giáo Đinh Gia Khánh mới được phong hàm Giáo sư. Cực chẳng đã, chỉ vì trên bìa luận văn tốt nghiệp của Cụ Tổng có ghi dòng chữ “GS. Đinh Gia Khánh” thôi mà Việt Tân đã nhặng xị cả lên, quy kết Cụ Tổng gian dối.

Trước hết phải khẳng định rằng, khi ông Nguyễn Phú Trọng (khi đó là sinh viên năm cuối) ghi tên, học hàm, học vị của thầy giáo hướng dẫn khóa luận cho mình lên bìa luận văn chắc chắn phải được sự đồng ý của thầy hướng dẫn – cụ thể là thầy Đinh Gia Khánh. Nếu thực sự thầy không phải là Giáo sư thì chắc chắn thầy đã không cho phép ghi như vậy.

Qua luận điệu trên ta thấy sự hiểu biết về lịch sử của Việt Tân còn non nớt, thể hiện góc nhìn phiến diện, quy chụp vô căn cứ, không hiểu hoặc cố tình không hiểu về lịch sử nền giáo dục Việt Nam qua các thời kỳ.

Trước hết, nói qua về danh xưng “Giáo sư” trong lịch sử Việt Nam như sau:

1. Sách “Đại Nam Quấc âm tự vị” (xuất bản 1895) ghi: “Giáo sư: Thầy dạy học, dạy đạo lý”.

2. Sách “Việt Nam từ điển” (xuất bản 1931) ghi: “Giáo sư: thầy dạy học”.

3. Sách “Hán Việt từ điển” (xuất bản 1932) ghi: “Giáo sư: Thầy dạy học (professeur, meitre)”.

Như vậy, cả 3 cuốn đại từ điển xuất bản trước 1945 đều thống nhất: “Giáo sư” có nghĩa là “thầy dạy học”. Cụ thể là thầy dạy học từ cấp Trung học trở lên.

Do đó, năm 1945, thầy giáo Đinh Gia Khánh sử dụng danh xưng “Giáo sư” khi đang giảng dạy triết học và tiếng Anh tại trường Bưởi (trường Trung học) là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Thứ hai, lịch sử phong hàm GS, PGS ở Việt Nam được phân chia như sau:

1. Năm 1956, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định phong hàm GS, PGS cho 29 nhà giáo, nhà khoa học tiêu biểu. Đây là đợt phong giáo sư chính thức đầu tiên ở Việt Nam.

2. Từ năm 1956 đến năm 1976 không có GS, PGS nào được phong chính thức. Trong đời sống văn hoá, học thuật Việt Nam thời gian này, những nhà giáo giảng dạy ở bậc đại học, có trình độ, uy tín đều được gọi với danh xưng Giáo sư.

3. Ngày 01/10/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 271-CP về việc công nhận chức vụ Giáo sư và Phó Giáo sư trong lĩnh vực giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Từ thời điểm này trở đi, việc phong GS, PGS mới được thực hiện bài bản và liên tục. Do đó, Chính phủ đã tổ chức xét và công nhận học hàm giáo sư, phó giáo sư nhiều đợt vào các năm 1980, 1984, 1988, 1991 và 1996. Theo đó, thầy giáo Đinh Gia Khánh được phong hàm Giáo sư chính thức vào năm 1980 (phong để phù hợp với quy định mới của Chính phủ).

Từ những kiến thức lịch sử Việt Nam như trên có thể dễ dàng hiểu được rằng, năm 1967 Giáo sư Đinh Gia Khánh vẫn là giáo sư theo cách hiểu tại thời điểm đó. Do đó, cậu sinh viên Nguyễn Phú Trọng ghi “GS. Đinh Gia Khánh” trên bìa luận văn là hoàn toàn hợp pháp.

Từ những luận cứ trên có thể thấy rằng, bài đăng của Việt Tân cũng như một số đối tượng phản động khác đều có mục đích bịa đặt, xuyên tạc nhằm hạ uy tín đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Qua đó đã trả lời được câu hỏi của đầu bài: Việt Tân thực sự dốt sử!

 


Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

Hiểu đúng về "Đề cương văn hóa Việt Nam" - 80 năm một chặng đường

 


Tuyên ngôn đầu tiên của Đảng ta về văn hóa cách mạng

“Đề Cương văn hoá Việt Nam” (viết tắt: Đề cương) là văn kiện có tính cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta về văn hóa; có ý nghĩa khai sáng, mở đường cho văn hóa nước nhà phát triển, thiết thực phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đề cương đã định hướng toàn diện và sâu sắc những vấn đề có tính chất nền tảng về nguyên tắc, phương châm, nhiệm vụ và phương hướng, giải pháp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; làm cho nền văn hóa Việt Nam do Đảng lãnh đạo thấm đẫm tính nhân văn, nhân đạo, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Giá trị và ý nghĩa đích thực của bản Đề cương là hiện thực cuộc sống cách mạng; đã thể hiện sâu sắc ở sự khái quát cô đọng tư tưởng của Bác Hồ: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Bởi vì, hơn 80 năm qua, dưới ánh sáng soi đường, dẫn lối của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 đã lan tỏa, thấm sâu vào đời sống tinh thần xã hội ta, góp phần tích cực trong giáo hóa, nâng tầm tư tưởng, định hình lối sống, đạo đức cách mạng; tích cực tham gia xây dựng đời sống mới, nhất là tham gia ở tuyến đầu – mặt trận nóng bỏng của cuộc kháng chiến, kiến quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đất nước và nhân dân ta có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc hôm nay, một phần quan trọng là do sự lan tỏa, tác động và ảnh hưởng to lớn của Đề cương văn hóa Việt Nam 1943.

Từ định kiến đến nhận thức sai lầm, cần vạch trần, phản bác

Một số người đã nhìn nhận thiếu biện chứng, đánh giá thiếu “khách quan, toàn diện, cụ thể, lịch sử và phát triển”; phán xét sai lầm, thiếu chuẩn mực về tầm vóc, giá trị, ý nghĩa của bản Đề cương văn hóa Việt Nam 1943. Họ cho rằng, bản Đề cương chỉ có gần 1.500 chữ, ra đời đã lâu, bị quy định bởi thời cuộc và tính lịch sử nên nó chỉ có “ý nghĩa nhất thời” và nó “đã hết vai trò lịch sử khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc”, “nó không liên quan đến nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà, bản sắc dân tộc, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Ý kiến này đã cố tình xuyên tạc giá trị, ý nghĩa của bản Đề cương và cáo buộc “các cơ quan tham mưu của Đảng đã thổi phồng giá trị, ý nghĩa của bản Đề cương để mua vui, làm đẹp lòng lãnh đạo”, “gây lãng phí thời gian, công sức, tiền bạc của nhân dân”.

Với thái độ hư vô lịch sử, những người này đã phớt lờ và làm ngơ hiện thực, không đếm xỉa đến nội dung tư tưởng, quan điểm cơ bản của Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 để phục vụ cho ý đồ thâm sâu của họ là “cắt dán, lắp ghép, sao chép, xuyên tạc nội dung của Đề cương” rồi quy chụp tác giả bản Đề cương “sao chép tư tưởng văn hóa của chủ nghĩa Mác – Lênin và các văn bản bàn về văn hóa của Liên Xô, đã biến cái chung thành cái riêng”, “của người phúc ta”. Họ phán rằng: “Đề cương không xứng tầm là tuyên ngôn về văn hóa của Đảng”, “không thể đại diện cho đường lối văn hóa của Đảng về nền văn hóa dân tộc Việt Nam” mà thực chất là phủ nhận vai trò lãnh đạo văn hóa của Đảng ta.

Vào hùa với các quan điểm lệch lạc, sai trái nêu trên, một số người dân đã thiếu tỉnh táo trước cái nhìn định kiến hẹp hòi về Đề cương văn hóa Việt Nam 1943, đã vội cho rằng, “báo chí, truyền hình và các hội thảo, tọa đàm khoa học đã tuyên truyền thái quá về bản Đề cương”; rằng “hàng ngàn bài viết đăng trên các tạp chí, sách báo…đều không có cái mới, sao chép giống nhau”, v.v..

Có người còn cho rằng, các cơ quan chuyên trách của Đảng, Nhà nước đã “tìm cách moi tiền của dân”, “thổi phồng” giá trị cơ bản của Đề cương và cáo buộc rằng, các nhà lãnh đạo, nhà văn, nhà báo, nhà giáo “đã bịa ra nhiều nội dung tư tưởng mà Đề cương không có, không bàn”, “đây là việc làm theo chỉ đạo của Ban Tuyên giáo các cấp”, “không ít nhà báo đã phản ứng lại sự áp đặt này”… Dụng ý của quan điểm này là “té nước theo mưa”, lấy cớ đợt tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày ra đời bản Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 để ngầm ý phủ nhận chủ trương, đường lối, chính sách văn hóa của Đảng, Nhà nước Việt Nam; phủ nhận nền văn hóa XHCN; mà thực chất là xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thành quả cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo kể từ ngày bản Đề cương ra đời đến nay.

Rõ ràng, điệp khúc nêu trên là “bồn cũ soạn lại”, đã “tua đi tua lại nhiều lần”, cốt để làm lung lay ý chí, lập trường, quan điểm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và quần chúng; làm cho họ hiểu sai chủ trương, đường lối, phương hướng phát triển văn hóa cách mạng mà Đề cương đã vạch ra. Họ đã cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận các ý kiến cụ thể trong những tình huống cụ thể, rồi nhấn mạnh sự lý giải của tư tưởng văn hóa phải gắn với thời cuộc, thời kỳ. Đồng thời, họ đã lấy một vài ý kiến, một vài luận điểm nào đó để quy kết sự sai lầm của Đảng, thổi phồng “tính hạn chế bởi tính lịch sử của bản Đề cương quy định”; cho rằng chủ trương, đường lối, phương hướng văn hóa do Đảng khởi xướng và lãnh đạo là “thực hiện mục tiêu đảng hóa văn hóa”, “chính trị hóa văn hóa”, “Đảng đã đem ý kiến chủ quan để áp đặt một cách sai lầm cho đường lối văn hóa Việt Nam, dẫn đến sự trì trệ của đất nước hiện nay; thậm chí những người này đã đòi Đảng ta phải từ bỏ nguyên tắc này hay nguyên tắc khác trên cơ sở “kết tội” bản Đề cương “thiếu chính xác về mặt khoa học”, “không có tính dân tộc, đại chúng”; không còn sức sống, chẳng cần kế thừa, vận dụng bản Đề cương đã viết hơn 80 năm trước đây vào thời kỳ mới do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư xác lập các giá trị văn hóa mới, v.v..

Những giá trị căn cốt của Đề cương văn hóa Việt Nam 1943

Trái với các quan điểm sai trái, cáo buộc nêu trên; thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định: Đề cương là kiểu mẫu về phân tích, đánh giá thực trạng đời sống văn hoá của nhân dân ta dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, chỉ ra nguy cơ “bị tha hóa, biến chất” bởi “sự xâm lăng của văn hoá ngoại lai” đối với dân tộc Việt Nam bởi ách thống trị của quân xâm lược và bè lũ tay sai.

Nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế đều hiểu rằng, dưới ách thống trị của quân xâm lược, các giá trị nhân văn, nhân đạo và bản sắc của nền văn hóa dân tộc “đã bị bào mòn, nhiều giá trị văn hóa dân tộc đã bị tước bỏ” vì quân xâm lược và bè lũ tay sai cùng vào hùa với nhau để “trói buộc và giết chết nền vǎn hoá dân tộc”.

Phản ánh đúng tình hình thực tiễn ấy, bản Đề cương đã chỉ ra quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ và đề xuất các biện pháp đấu tranh chống lại “chính sách ngu dân”, chống lại sự xâm nhập, ảnh hưởng của các sản phẩm văn hoá phản động, gây họa cho dân tộc, nhất là tác hại của trào lưu lãng mạn có khuynh hướng cải lương, bi quan, bế tắc, làm thui chột và suy giảm ý chí, nhuệ khí, tinh thần tham gia kháng chiến, kiến quốc của quần chúng nhân dân…Điều này đã được nhiều văn nghệ sĩ, nhà báo cách mạng đã lên tiếng khẳng định; bác bỏ các quan điểm sai trái, vu khống, cáo buộc bởi cái nhìn đầy định kiến hẹp hòi, lệch lạc đối với bản Đề cương.

 “Đề cương văn hoá Việt Nam” đã: (1) Xác định rõ phạm vi, vị trí, nội dung và vai trò của văn hóa trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa; (2) Cách mạng văn hóa muốn thành công nhất thiết phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo; (3) Để thực hiện cuộc cách mạng văn hóa ở nước ta phải nắm vững “ba nguyên tắc vận động”: “dân tộc, đại chúng và khoa học”; (4) Xây dựng một nền văn hóa mới cần nhiều hình thức, đồng thời, phải kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ “xây” và “chống”, “xây” là chính, “chống” là quan trọng.

Dấu ấn đặc sắc của “Đề Cương hoá Việt Nam” là chỉ rõ tính chất phản động của “chính sách văn hoá ngu dân”, “đầu độc dân” và “sự tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật”. Qua đó, trình bày những định hướng lớn để xây dựng nền văn hóa mớiĐồng thời, trang bị lý luận cơ bản cho cán bộ, chiến sĩ làm công tác văn hóa – tư tưởng của Đảng. Đề Cương khẳng định: Văn hóa là một mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cùng với mặt trận kinh tế và chính trị, mặt trận văn hóa phải đưa được đường lối của Đảng đến cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhanh nhất, hiệu quả nhất; xây dựng được văn hoá cách mạng, tiến tới xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng XHCN.

Thực tế này đã được sử sách và thực tiễn cách mạng Việt Nam khẳng định tầm vóc, giá trị, ý nghĩa của bản Đề cương. Những người bất mãn, bất đồng chính kiến với Đảng, Nhà nước ta dù có dùng các chiêu trò, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khác nhau để xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa của Đề cương thì cũng không thể lừa gạt được nhân dân ta; không ai tin chúng. Bởi lẽ, nội dung của bản Đề cương đọng lại vô cùng sâu sắc ở tính toàn diện, tầm tư tưởng lớn, nhất là 3 nguyên tắc chỉ đạo xây dựng nền văn hóa mới: dân tộc – đại chúng – khoa học, xuyên suốt các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nó luôn được cập nhật, bổ sung một số điểm mới, mang tính bộ phận, còn mặt đường lối, phương hướng trong nội dung cốt lõi thì nhất quán và được giữ nguyên bản cho tới ngày nay; nó rất cần cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Không có bản Đề cương, chúng ta không thể giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, tiến hành công cuộc đổi mới thành công, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu của văn hóa cách mạng thật to lớn, được Đảng ta khẳng định tại Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ 75 ngày 24-11-2021. Đảng ta đã đánh giá thực trạng, kết quả xây dựng văn hóa, con người Việt Nam sau hơn 35 năm đổi mới, khái quát những bài học kinh nghiệm về sự đoàn kết, thống nhất trong nhận thức và hoạt động xây dựng, phát triển nền văn hóa cách mạng với những phẩm chất tốt đẹp, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; thực hiện hiệu quả các chính sách xã hội, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Chấn hưng nền văn hóa Việt Nam thời kỳ mới

Bước qua những thiên kiến hẹp hòi, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và cái nhìn siêu hình, duy tâm; nội dung tư tưởng của bản Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 tiếp tục được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kế thừa, bổ sung, phát triển, làm phong phú qua thực tiễn lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; rõ nhất là quan điểm, định hướng xây dựng, phát triển nền văn hóa nước nhà trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần xây dựng, giữ gìn, chấn hưng và phát triển nền văn hóa của dân tộc trong thời kỳ mới. Tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước…, phát huy cao độ những giá trị văn hóa, sức mạnh và tinh thần cống hiến của mọi người dân Việt Nam. Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những giá trị chuẩn mực phù hợp gắn với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, giá trị quốc gia dân tộc kết hợp nhuần nhuyễn với giá trị truyền thống với giá trị thời đại.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam bác bỏ các quan điểm lệch lạc, sai trái về tầm vóc, giá trị, ý nghĩa của bản Đề cương. Đồng thời, chứng minh sức sống mãnh liệt của những quan điểm cơ bản mà Đề cương văn hóa Việt Nam đã xác định. Tiếp tục khẳng định giá trị nền “gốc”, cốt lõi của bản Đề cương và định hướng cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam hôm nay và mai sau.

“Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” đến bến bờ vinh quang, hạnh phúc, sự thật là như vậy; không thể đảo ngược. Trước đây và hiện nay, mãi mãi không bao giờ có chuyện những người thiếu văn hóa lại đứng ra phán xét bản Đề cương văn hóa Việt Nam và đường lối văn hóa của Đảng. Những kẻ luôn có định kiến sai lầm và cái nhìn lệch lạc, sai trái về Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 cần phải vạch mặt, xử lý đúng với đạo lý và pháp lý Việt Nam./.

 


Thứ Tư, 1 tháng 3, 2023

Cần vạch trần, phản bác những luận điệu xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 


 Chủ trương đúng, quyết sách hay

Tham ô, tham nhũng, tiêu cực là “những căn bệnh nan y, nguy hiểm” không chỉ gây hại về kinh tế, mà còn làm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; làm hư hỏng cán bộ, đảng viên; suy yếu bộ máy của Đảng, Nhà nước; xói mòn lòng tin của nhân dân; làm cho trắng đen, thật giả, đúng sai, phải trái, tốt xấu và các chuẩn mực đạo đức, văn hóa, xã hội “bị đảo lộn”…

Đây là một trong bốn nguy cơ đe dọa sinh mệnh của Đảng, sự an nguy của chế độ, lợi ích quốc gia – dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “cuộc chiến đấu trong thời bình” vô cùng gay go, quyết liệt và phức tạp, là “cuộc đấu trí, đấu lý và sức mạnh” giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và thoái bộ; giữa đạo đức cách mạng và kẻ địch “giấu mặt” – những thói hư, tật xấu, tệ tham ô, lãng phí, quan liêu…, những thế lực “ngầm” cản bước, ngăn đường chúng ta đi lên CNXH, phá hoại cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, từ năm 2013, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập; công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được tiến hành ráo riết, quyết liệt, được nhân dân cả nước hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ vì cuộc chiến đấu này đã và đang phát triển đúng định hướng, đạt nhiều kết quả quan trọng.

Qua thực tiễn tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo cuộc chiến đấu này, nhất là phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được bổ sung, hoàn thiện, đi vào nền nếp, có chiều sâu, đã gắn kết chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất giữa “phòng” với “chống”; giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phòng, chống các quan điểm sai trái trong lĩnh vực này, đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội ta.

Những ý kiến khác chiều, quan điểm lệch lạc

Thế nhưng, do nhận thức, trình độ hiểu biết và quan niệm khác nhau, lại được các thế lực xấu “hậu thuẫn”, trên các trang mạng xã hội, tài liệu phản động vẫn còn có những ý kiến khác nhau về cuộc chiến đấu cam go, quyết liệt và phức tạp này. Ngoài các thông tin, ý kiến đánh giá tốt, cơ bản đồng tình, ủng hộ; đó đây, vẫn còn không ít ý kiến chưa đồng thuận, thậm chí trái chiều, bài xích, châm chính, xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực rất đáng để chúng ta suy ngẫm, phải có biện pháp tăng cường xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân vào cuộc chiến đấu không nghỉ, không ngừng.

Gần đây, có ý kiến cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta là “cuộc đấu đá nội bộ”, là “cuộc thanh trừng”, loại trừ lẫn nhau giữa các “phe cánh”, “sự tranh giành quyền lực” giữa phe Đảng với các phe Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và các “nhóm lợi ích” của phái miền Bắc, miền Trung và miền Nam” (!) Có ý kiến cho rằng “đấu tranh phòng, chống tham nhũng là cái cớ để duy trì sự độc tôn, độc quyền, toàn trị của đảng cộng sản”, là “sự thắng thế của phe Đảng đối với phe Nhà nước”, v.v..

Ý kiến khác lại cho rằng “nếu Đảng quá tập trung vào đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ làm cho đội ngũ cán bộ “nhụt chí”, vì lo sợ “mất chức, mất quyền” nên “chùn chân, lùi bước”, không dám nghĩ, dám làm vì sợ trách nhiệm “sợ sai lầm trong quá khứ bị khui ra”, “lòi đôi tay nhúng chàm và cái đuôi tham nhũng trước đây”; vả lại, “làm nhiều thì khuyết điểm nhiều, lại không thể chia nhau lợi ích, nhận quà biếu xén” nên tạm “dừng tay, nghe ngóng, chờ thời”. Đây là nguyên nhân của sự trì trệ, “chậm giải ngân” trong thời gian qua; đã làm “chậm” sự phát triển của đất nước.

Một số ý kiến khác lại cho rằng giữa tham nhũng và tiêu cực không có liên hệ gì với nhau, vì “tham nhũng là tham nhũng”, “tiêu cực là tiêu cực”, mỗi loại có phạm vi, mức độ, đối tượng khác nhau; không thể cấy ghép hai thứ này vào với nhau “thành một phạm trù” để bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ, tăng thêm quyền lực cho Tổng Bí thư, cho Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; làm như thế là phình to bộ máy, đưa “tay chân”, “cánh hẩu vào tổ chức này để tăng cường lực lượng, tạo uy thế so với các nhóm lợi ích đảng” và “bội chi ngân sách, tăng gánh nặng cho dân”.

Có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với động cơ sai, dụng ý xấu; cho rằng tham nhũng, tham ô, nhũng nhiễu là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có. Đó là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, của “chế độ đảng cộng sản độc quyền, toàn trị”. Hơn nữa, “các quốc gia văn minh cũng tiến hành đấu tranh chống tham nhũng nhưng không đạt hiệu quả”.

Từ đó, họ cho rằng “tham nhũng là một phần tất yếu của cuộc sống”; “xã hội cần có nó để có dân chủ, các phe phái kiểm soát lẫn nhau, kiềm chế lẫn nhau”. Vì thế, không nhất thiết phải thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; không cần gán ghép “tham nhũng” với “tiêu cực”; không cần đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; không cần “chạy đôn chạy đáo” làm gì cho mệt sức, tốn công, tốn kém tiền thuế của dân; để công sức, tiền của làm việc khác, v.v..

 Xu thế tất yếu khách quan, không thể đảo ngược

Phải nói ngay rằng các ý kiến nêu trên là sai trái, tỏ rõ “thái độ coi thường Đảng, khinh nhờn pháp luật Nhà nước”, là sự phản ứng tiêu cực với cách nhìn phiến diện, một chiều, thiếu trách nhiệm, luôn “bàn lùi”, “phá ngang”, chẳng khác gì “những kẻ chọc gậy bánh xe”, “nhăm nhe phá đám”, là sự đồng lõa với các xấu, cái ác; cản trở tiến bộ xã hội; chống đối chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

 Những người này chỉ là số ít, phần lớn là những phần tử cơ hội, bất mãn, có thâm thù với chế độ; không thỏa mãn với sở thích, ý muốn của cá nhân nên đã theo đuôi bọn xấu; cố tình không hiểu hoặc không muốn thừa nhận quyết tâm chính trị của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhất là khi cuộc chiến đấu này do Đảng lãnh đạo đã trở thành phong trào, một xu thế không thể đảo ngược, phản ánh đúng “lòng dân, vận nước”; được đông đảo cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân đồng tình, ủng hộ; được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

 Chúng ta cực lực phản đối các quan điểm sai trái, thái độ, hành vi, lời nói, phát ngôn thiếu trách nhiệm, luôn bài xích, kích động, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cũng như phủ nhận sự cần thiết phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xuyên tạc vai trò, trách nhiệm của những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và người dân “đứng nơi đầu sóng, ngọn gió” và tự giác, tự nguyện tham gia cuộc chiến đấu này.

Người có lương tâm và liêm sỉ chắc chắn là không bao giờ chấp nhận, tha thứ cho những hành vi ăn cắp, ăn bớt, ăn chặn của công; lấy tiền tài, của cải, vật chất của tập thể để làm của riêng hoặc lợi dụng chức quyền để o ép người khác “biếu xén”, “cho, tặng”, hối lộ, dưới nhiều hình thức… với động cơ không trong sáng; dùng những đồng tiền bất lương để tiêu xài, ăn chơi xa sỉ, làm giàu bất chính và cực lực phản đối các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng lãnh đạo.

Đặc biệt, sẽ là sai lầm nếu ai đó lợi dụng uy quyền, chức vụ đang nắm giữ để “rung chà cá nhảy”, “thả thính, quăng chài” nhằm vơ vét, làm giầu cho cá nhân, gia đình, ê kíp, lợi nhóm; sử dụng tiền, vàng có được để xây nhà lầu, “biệt thự, phủ chúa”, sắm xe hơi sang trọng, dùng đồ đắt tiền, cho con cháu đi du học nước ngoài với chi phí hàng trăm ngàn đô la mỗi năm, trong khi đất nước còn nghèo, dân còn khổ; đồng lương chỉ đủ sống… Chúng ta cần phải vạch mặt, chỉ tên những người tung tin xấu, độc; kiên quyết đưa “lũ sâu mọt” ra ánh sáng, phải nghiêm trị chúng theo đúng pháp luật Việt Nam…

Tham nhũng và tiêu cực dính chặt vào nhau, cùng tương tác, gây hại cho dân, cho nước. Tham nhũng và tiêu cực không phải là “hai lĩnh vực khác nhau” như một số người suy nghĩ “siêu hình”, viết bài, tung tin “bào chữa”, bênh vực cho hành vi sai trái ấy. So với “tham nhũng” thì “tiêu cực” có nghĩa rộng hơn, là những hành vi có liên quan đến tham nhũng; đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Còn tham nhũng, đương nhiên là một loại hành vi tiêu cực nhưng do người có chức, có quyền thực hiện, là biểu hiện cụ thể của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vào hùa với nhau phá hoại công cuộc đổi mới đất nước.

Nguồn gốc sản sinh ra tham nhũng là do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo  đức, lối  sống. Ở đây, tiêu cực là môi trường làm nảy  sinh tham nhũng và chính tham nhũng tác động trở lại làm trầm trọng hơn tình trạng tiêu cực. Nó giống như “một con đỉa hai vòi – một vòi là tham nhũng, vòi kia là tiêu cực”. Vì vậy, phòng, chống tiêu cực phải gắn chặt với phòng chống tham nhũng, phải chặt đứt cả hai vòi của con đỉa. Cần phải xác định cho rõ: phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là đặc biệt cần thiết vì nó là gốc của tham nhũng; không thể tách rời hai vấn đề trên. Vì lẽ đó, Đảng ta phải huy động sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, cả hệ thống chính trị để cùng vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phản bác các quan điểm sai trái trong lĩnh vực này.

Đến nay, điều đáng mừng là “trên nóng dưới cũng nóng”, “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”. Niềm tin, sự kỳ vọng của nhân dân ngày càng được củng cố vững chắc bởi tất cả 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và nhanh chóng đi vào hoạt động, đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ.

Sự thật nói lên tất cả; phẩm giá khẳng định niềm tin

Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh và công khai, không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai, hễ vướng vào tham nhũng và hành vi bao che cho nó cho dù nó có chạy trốn ở đâu cũng không thể thoát tội. Tính nhân văn, nhân đạo của việc xử lý tham nhũng, tiêu cực là để “trị bệnh cứu người”, là để cảnh báo, răn đe, giáo dục, phòng ngừa là chính nhằm thực hiện “bốn không”: “không thể” – “không dám” – “không muốn” – “không cần” tham nhũng, tiêu cực. Ai đó xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “cuộc đấu đá nội bộ”, “thanh trừng lẫn nhau” là hết sức vô lý, không thể chấp nhận.

Có thể khẳng định các chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là hợp lòng dân, vận nước, đúng ý Đảng; là sự tự giác, tự tin cùng vào cuộc đấu tranh, thể hiện sự thống nhất cao về ý chí và hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; biểu hiện đáng mừng nhất là trong công tác cán bộ; tình trạng chạy chức, chạy quyền, cục bộ, địa phương, “thân quen”, “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm” đã giảm hẳn; các luận điệu tuyên truyền sai trái về vấn đề này đã được người dân cảnh giác cao.

Luận điệu cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “cuộc đấu đá nội bộ”, “thanh trừng lẫn nhau” là vu cáo, xuyên tạc sự thật. Nếu như có hiện tượng ấy thì làm sao lòng dân, vận nước hưng thịnh, nhân dân ta có được sự đoàn kết, thống nhất như hôm nay; làm sao nước ta có được cơ ngơi, tiền đồ, tiềm lực, uy tín, vị thế quốc tế như bây giờ.

Hãy nhìn lại tất cả các vụ xử lý kỷ luật của Đảng và xử lý hình sự của Nhà nước trong hơn 10 năm qua đều đã cho thấy rõ quyết tâm, nỗ lực của Đảng, Nhà nước ta mạnh mẽ biết dường nào. Đảng ta đã nói là làm; nói được, làm được. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ là tuyên ngôn mà trở thành quyết tâm chính trị và hành động thực tế. Hãy xem xét kỹ các số liệu, tài liệu về kết quả 10 năm kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam (2013-2023) có thể khẳng định chân lý. Sự thật nói lên tất cả; phẩm giá khẳng định niềm tin; uy tín, danh dự người đảng viên là điều thiêng liêng nhất. Các luận điệu sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã thất bại; không thể ngăn bước, cản đường chúng ta đi tới (!).

Phương Duy