Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2025

Nguyên Thứ trưởng Nội vụ: Sáp nhập còn 38 tỉnh, thành như trước là phù hợp

 Ủng hộ chủ trương sáp nhập tỉnh mà Bộ Chính trị vừa mới kết luận, nguyên Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh cho rằng có thể sáp nhập một số tỉnh để cả nước trở về con số 35 - 38 tỉnh, thành như trước là phù hợp.


Trao đổi với VietNamNet về chủ trương sáp nhập tỉnh, bỏ cấp huyện vừa được Bộ Chính trị kết luận, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, ông Nguyễn Tiến Dĩnh cho rằng, vừa qua Trung ương đã gương mẫu làm trước theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng” thì địa phương cũng “hăng hái làm theo”. Đó là quan điểm mà Tổng Bí thư đã nêu rõ.

Theo ông Dĩnh, việc sáp nhập một số tỉnh là tất yếu vì chúng ta đang thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy và đã làm là phải làm cả hệ thống đồng bộ, đảm bảo “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”.

Nếu không làm sẽ bỏ lỡ thời cơ

Nói đến sáp nhập tỉnh thành, bộ ngành trước đây đã có một số lần đề cập nhưng dường như mỗi lần đưa ra thì có rất nhiều lực cản không làm được. Nhưng lần này, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy ở Trung ương rồi cả ở địa phương vừa qua, chúng ta không chỉ làm được mà còn làm rất nhanh. Vậy theo ông, đây có phải là tiền đề để việc sáp nhập tỉnh tới đây không thể bàn lùi?

Nghị quyết 18 năm 2017 của Trung ương khóa 12 đã đề ra nhiều nhiệm vụ rất toàn diện, đầy đủ. Đảng thế nào, Quốc hội thế nào, Chính phủ thế nào, MTTQ thế nào. Vấn đề nằm ở triển khai ra sao.

Thời gian qua, chúng ta đã thực hiện sắp xếp, tinh gọn bộ máy và đạt được một số kết quả nhưng thực ra chưa đạt mục tiêu. Tinh gọn bộ máy nhiều khi chỉ giảm được số lượng biên chế nhưng chưa chất lượng. Đôi khi cách làm còn nể nang.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, ông Nguyễn Tiến Dĩnh. Ảnh: Ngọc Thắng

Trước đây, chúng ta hay đặt ra lộ trình vì có nhiều cái khó.

Nhưng lần này Đảng, Nhà nước mà đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm đã xác định đây là cuộc cách mạng, phải làm triệt để, quyết tâm, tốc chiến, tốc thắng, bứt phá để vươn mình. Cho nên bây giờ không còn lộ trình nữa mà là tiến độ công việc.

Chính vì vậy đợt sắp xếp bộ máy lần này khác với trước đây, thái độ khác, hành động khác. Nên bây giờ làm không phải bộc phát mà trên cơ sở đã có nghiên cứu, kế thừa thành quả từ trước và làm quyết liệt như một cuộc cách mạng chứ không phải đổi mới. Đây là thời cơ vận hội, nếu không làm thì sẽ bỏ lỡ.

Đại hội 13 của Đảng đã đặt ra mục tiêu năm 2030, Việt Nam sẽ trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Mục tiêu rất rõ, nếu không tăng tốc, bứt phá thì không thể đạt được tốc độ phát triển như mục tiêu đề ra.

Vừa rồi, chúng ta làm 3 đột phá về hạ tầng, thể chế, nguồn nhân lực nhưng lần này là làm cả tinh gọn bộ máy và đột phá về khoa học công nghệ.

Vừa rồi Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 57 và Quốc hội mới thông qua Nghị quyết về thí điểm một số chính sách, cơ chế đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đặc biệt là cơ chế khoán và chấp nhận “nghiên cứu có rủi ro”.

Tất cả đều làm đồng bộ và tinh thần của chúng ta rất quyết tâm, chớp lấy thời cơ “ngàn năm có một”.

Một tỉnh mà có hơn 300.000 dân như Bắc Kạn thì quá bé

Khi triển khai chủ trương sáp nhập tỉnh thì nên tính toán những yếu tố nào? Có ý kiến cho rằng nên sáp nhập các tỉnh để tạo thành các vùng phát triển, ý kiến của ông thế nào?

Để xác định nhập tỉnh nào với tỉnh nào thì phải có tiêu chí. Trong đó có tiêu chí về quy mô dân số và diện tích nhưng cũng có những yếu tố đặc thù về văn hóa, lịch sử,…

Nhưng đầu tiên là phải dựa vào quy mô dân số và diện tích tự nhiên và xem xét đến 5 yếu tố khác theo Nghị quyết 35/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2023 – 2030.

Trước nay chúng ta vẫn quan tâm đến vùng tăng trưởng, vùng động lực để phát triển như: Vùng Tây Nguyên, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, vùng Đồng bằng Sông Hồng… Nhưng vùng thì tương đối lớn chứ không chỉ một hai tỉnh nhập lại.

Muốn sáp nhập tỉnh nào với tỉnh nào thì phải xét nhiều yếu tố, từ vị trí địa lý đến con người, dân số, phong tục tập quán… Ví dụ như một tỉnh mà có hơn 300.000 dân như Bắc Kạn thì quá bé.

Vậy theo ông, một số tỉnh trước đây tách ra có nên nhập lại và lấy tên như cũ vì đã có sẵn truyền thống, cơ sở rồi?

Cũng có thể, đấy cũng là một cơ sở mà trước đây chúng ta cũng đã nghiên cứu. Thực ra sau năm 1976 chúng ta cũng chỉ có 38 tỉnh. Lúc đó cũng có những điều kiện riêng.

Nhưng sau đó tách ra thành nhiều tỉnh thành hơn do điều kiện đi lại khó khăn, cơ sở vật chất cũng không có điều kiện như hiện nay. Có nhiều địa phương khi tách ra đã khá phát triển.

Tỉnh Vĩnh Phú trước đây tách ra thì Vĩnh Phúc phát triển trước, giờ Phú Thọ cũng phát triển. Hay như Hà Bắc khi tách ra Bắc Ninh rất phát triển, những năm gần đây Bắc Giang phát triển rất mạnh. Hay như Hải Hưng ngày xưa tách ra thành Hải Dương và Hưng Yên. Hải Dương phát triển trước, Hưng Yên gần đây cũng rất phát triển… Hay sâu hơn nữa là Quảng Nam - Đà Nẵng...

Nhưng đến thời điểm này, các tỉnh phát triển cũng đến giới hạn; nguồn lực, tài nguyên cũng dần cạn kiệt nên cần phải tính toán lại không gian phát triển.

Năm 2008, Hà Nội sáp nhập Hà Tây, ban đầu có khá nhiều ý kiến bức xúc nhưng bây giờ thực tế khẳng định sáp nhập như vậy Hà Nội mới có không gian, dư địa phát triển hơn.

Nên tiếp nối tinh thần “thần tốc”

Việc sáp nhập, tinh gọn tổ chức bộ máy ở Trung ương vừa qua diễn ra phải nói là “thần tốc”, chỉ trong 2 tháng đã thực hiện xong và rất nhiều người không ngờ đến. Vậy theo ông chủ trương sáp nhập tỉnh sắp tới đây liệu có diễn biến tương tự?

Tôi tin là tinh thần “thần tốc” này tiếp tục tiếp nối. Bởi vì chúng ta đang chuẩn bị cho Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc vào tháng 1/2026. Hiện nay đang chuẩn bị Đại hội cấp cơ sở. Vì vậy phải chuẩn bị nhân sự cho đại hội các cấp.

Cho nên tôi nghĩ phải làm quyết liệt để ổn định tổ chức bộ máy. Hiện nay đang thực hiện sắp xếp bỏ công an huyện đã có đề án trước đó. Kết luận 126 nêu rõ không chỉ bỏ công an huyện mà nghiên cứu sắp xếp cả tổ chức bộ máy tòa án, VKSND, thanh tra. Tất cả hệ thống thực hiện đồng bộ.

Tôi tin là phải làm và làm với tinh thần như vừa rồi, làm kiên quyết, triệt để. Trung ương gương mẫu làm trước, địa phương tiếp bước làm theo. Giờ tỉnh sáp nhập trước, tiến tới bỏ cấp huyện.

Là người làm công tác tổ chức lâu năm, theo ông khi thực hiện sáp nhập tỉnh nên gọn lại bao nhiêu tỉnh thì phù hợp với tình hình của Việt Nam hiện nay?

Tôi nghĩ trở về con số như cũ 35 đến 38 tỉnh, thành là phù hợp. Tất n

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2025

Bản chất của tổ chức khủng bố BPSOS

 Ngày 14/02, Bộ Công an Việt Nam đã phát đi thông báo về tổ chức liên quan đến khủng bố “Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS”. Theo Bộ Công an, tổ chức khủng bố “Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS” hoạt động dưới danh nghĩa “cứu trợ người tị nạn”, nhưng thực chất tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam.


Theo đó, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế; cụ thể là, căn cứ Khoản 12, Điều 1 Nghị định số 93/2024/NĐ-CP, ngày 18/7/2024 của Chính phủ quy định về việc “Đưa vào danh sách, đưa ra khỏi danh sách và công bố danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến tổ chức khủng bố, tài trợ khủng bố”; Nghị quyết số 1267 (năm 1999), Nghị quyết số 1373 (năm 2001), Nghị quyết số 1988 (năm 2011), Nghị quyết số 1989 (năm 2011); các nghị quyết kế thừa của các nghị quyết này và các nghị quyết khác của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thông qua trên cơ sở Chương VII của Hiến chương Liên hợp quốc về “Hành động trong trường hợp hòa bình bị đe dọa, bị phá hoại hoặc có hành vi xâm lược”, Bộ Công an Việt Nam xác định: tổ chức “Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS” đã và đang liên quan đến khủng bố.

Trong nhiều năm qua, BPSOS hoạt động dưới danh nghĩa “cứu trợ người tị nạn”, nhưng thực chất là lợi dụng hoạt động này để móc nối, trợ giúp các tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam. Lợi dụng nền tảng mạng xã hội, họ đã tổ chức các diễn đàn trực tuyến và phát đi nhiều bài viết xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam, cùng với đó thu thập tài liệu, thông tin để vận động các nước, cơ chế nhân quyền quốc tế can thiệp, gây sức ép với Việt Nam; khích lệ, hậu thuẫn số đối tượng chống đối trong nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, v.v.


            Cũng cần phải biết thêm về Nguyễn Đình Thắng và tổ chức mang tên BPSOS để thấy rõ bản chất chống phá Việt Nam của tổ chức khủng bố này. Năm 1980 tại Mỹ, Phan Lạc Tiếp (quốc tịch Mỹ, nguyên sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng hòa) và Nguyễn Hữu Xương (quốc tịch Mỹ) đã đứng ra thành lập “Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS” với mục đích giúp đỡ người Việt “tị nạn” tại Mỹ. Đến năm 1990, họ đã chuyển giao cho Nguyễn Đình Thắng (sinh năm 1958, tại Thành phố Hồ Chí Minh, quốc tịch Mỹ) tiếp tục điều hành. Sau khi tiếp nhận BPSOS, Nguyễn Đình Thắng đã hướng lái hoạt động của tổ chức này ngày càng đi sâu vào các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” và trở thành một tổ chức phản động lưu vong chống phá quyết liệt ở cả trong và ngoài nước, xâm phạm trực tiếp đến an ninh quốc gia Việt Nam.

            Nhiều năm qua dưới danh nghĩa tư vấn, hỗ trợ tị nạn cho những người xuất cảnh trái phép, Nguyễn Đình Thắng và BPSOS đã dùng đủ mọi chiêu trò lừa phỉnh, tự tô vẽ cho mình như một tổ chức nhân đạo có tầm ảnh hưởng lớn tác động được cả giới chức Mỹ và Cao ủy tị nạn Liên hợp quốc để đưa họ định cư tại Mỹ hay các nước phương Tây. Tuy nhiên, đây chỉ là những lời hứa hẹn viển vông. Thực tế, đã có hàng nghìn người Việt Nam xuất cảnh trái phép đang bị bỏ mặc, sống chui lủi, đói khổ trong các trại tị nạn ở các nước sở tại. Ngoài ra, tận dụng sự hỗ trợ của một số cá nhân và các tổ chức ở ngoài nước thiếu thiện chí với Việt Nam để tham gia một số diễn đàn quốc tế, Nguyễn Đình Thắng thường xuyên có những phát biểu xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam; phát động các chiến dịch, như: “Thỉnh nguyện thư”, “Người Mỹ gốc Việt đòi tài sản”, thu thập thông tin, xây dựng báo cáo, tập hợp hàng trăm hồ sơ về các vụ việc mà chúng cho là “vi phạm nhân quyền” tại Việt Nam (dù những thông tin này hoàn toàn thiếu căn cứ do chúng tự xuyên tạc, bịa đặt) để tuyên truyền, vu cáo Việt Nam, nhằm hạ thấp vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, Thắng còn cấu kết với những tổ chức phản động, chống phá tuyển chọn những người gốc Việt, các đối tượng tị nạn ở nước ngoài có tư tưởng chống đối, bất mãn chế độ và sử dụng họ như những nhân chứng sống để tiếp cận giới chức phương Tây. Qua đó, vận động Chính phủ Mỹ và cộng đồng quốc tế can thiệp, gây áp lực với Việt Nam.

Đối tượng Nguyễn Đình Thắng



Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Thắng và đồng bọn đã xây dựng các kế hoạch hoạt động với mưu đồ “chuyển hóa nền dân chủ Việt Nam” theo mô hình phương Tây. Họ đề ra mục tiêu sẽ lôi kéo, tập hợp lực lượng trong nước hình thành các hội, nhóm xã hội dân sự với đa dạng thành phần dân tộc, tôn giáo, công nhân, công chức, tri thức,… tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam, nhằm chuyển hóa thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. BPSOS câu kết chặt chẽ với tổ chức khủng bố Việt Tân cung cấp tài chính cho số đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam để thực hiện các hoạt động chống phá. Câu kết với “Quỹ người Thượng” (do Ksor Kok cầm đầu) và số đối tượng tham gia tổ chức “Người Thượng vì công lý - MSFJ” - tổ chức đã tiến hành vụ khủng bố ngày 11/6/2023 tại Đắk Lắk (ngày 06/3/2024, Bộ Công an đã đưa tổ chức MSFJ và các cá nhân liên quan vào danh sách các tổ chức, đối tượng khủng bố) chia rẽ chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây Nguyên, kích động đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vượt biên sang Campuchia, xin tị nạn tại Mỹ,… gây mất trật tự, an toàn xã hội tại các địa phương trên địa bàn Tây Nguyên.

                Có thể thấy Nguyễn Đình Thắng và BPSOS núp bóng danh nghĩa một tổ chức phi chính phủ hoạt động với mục đích “từ thiện, trợ giúp người tị nạn”, song thực chất BPSOS là một tổ chức phản động lưu vong luôn tìm cách phá hoại đất nước. Việc Bộ Công an Việt Nam đưa tổ chức BPSOS vào danh sách các tổ chức khủng bố là hoàn toàn xác đáng, bởi những hành động chống phá đất nước Việt Nam trong suốt thời gian qua đã tự phơi bầy bản chất và bộ mặt thật của BPSOS đích thị là tổ chức khủng bố./.

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2025

Lên án hành động xuyên tạc sự việc quân nhân ở Quân khu 1 tử vong

Lợi dụng sự việc quân nhân Nguyễn Văn Nghiệp, nhân viên quân khí thuộc Sư đoàn 3, Quân khu 1 tử vong, ngày 13/2, trang facebook Chân Trời Mới Media đã đăng status: “Vụ quân nhân Nguyễn Văn Nghiệp nghi ngờ bị chỉ huy đánh chết: Bạn tin lời nói của thân nhân nạn nhân hay tin chỉ huy đơn vị anh Nghiệp? Nếu tự tin là nói sự thật thì tại sao quân đội/đảng xóa thông tin và tìm cách bịt miệng người thân nạn nhân như bao nhiêu vụ án tương tự trong quá khứ?”. Đây là thông tin xuyên tạc nguyên nhân cái chết của quân nhân Nghiệp nhằm vu cáo công tác quản lý quân nhân của các đơn vị Quân đội; kích động, chống đối việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của thanh niên trong độ tuổi theo quy định của pháp luật. Hành động này cần bị lên án, đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, cần khẳng định ngay rằng: nguyên nhân dẫn đến tử vong của quân nhân Nghiệp là do bị sốc nhiễm khuẩn não mô cầu thể tối cấp. Kết quả xét nghiệm của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã xác định: quân nhân Nghiệp ngừng tuần hoàn ngoại viện do sốc nhiễm khuẩn do não mô cầu thể tối cấp. Để bảo đảm khách quan, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã vào cuộc, trưng cầu giám định pháp y để làm rõ nguyên nhân tử vong (có sự chứng kiến của gia đình quân nhân Nghiệp) và tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật. Sau đó, nguyên nhân tử vong của quân nhân Nghiệp được thông tin công khai, rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, các báo, đài. Đồng thời, ngày 13/2, Viện Y học dự phòng Quân đội đã lấy mẫu xét nghiệm PCR đối với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 nơi quân nhân Nghiệp công tác. Qua xét nghiệm đã phát hiện 7 mẫu dương tính với vi khuẩn não mô cầu. Đây là những cán bộ, chiến sĩ đã tiếp xúc trực tiếp với quân nhân Nguyễn Văn Nghiệp. Sâu đó, đơn vị đã tổ chức cách ly, theo dõi đối với 7 quân nhân trên và tích cực phối hợp với Sư đoàn 3 cùng các lực lượng chức năng triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch. Điều này, càng củng cố, khẳng định nguyên nhân tử vong của quân nhân Nghiệp là đúng như cơ quan chức năng xác định và đã có biểu hiện lây lan của dịch bệnh.

          Thứ hai, những thông tin xấu độc, chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội trên không gian mạng ở Việt Nam đều được các lực lượng chức năng rà quét, phân loại, gỡ bỏ, vô hiệu hóa theo quy định của pháp luật. Cụ thể, Điều 19, Nghị định số 53/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng đã nêu rõ các trường hợp áp dụng biện pháp yêu cầu xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng gồm: Khi thông tin được cơ quan có thẩm quyền xác định là xâm phạm an ninh quốc gia, tuyên truyền chống Nhà nước; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh và gây rối trật tự công cộng. Hoặc khi có căn cứ pháp luật xác định thông tin có nội dung làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; bịa đặt, sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho hoạt động kinh tế - xã hội đến mức phải xóa bỏ thông tin, v.v. Như vậy, những thông tin xuyên tạc, vu khống Quân đội thì đều bị các cơ quan chức năng xóa bỏ, bóc gỡ là đúng quy định của pháp luật, không có động cơ, mục đích nào khác.

Thứ ba, thực chất âm mưu sâu xa của hành động xuyên tạc này là nhằm kích động, chống đối việc thi hành nghĩa vụ quân sự của thanh niên trong độ tuổi quy định của pháp luật. Bởi, ngay sau khi quân nhân Nghiệp tử vong, Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đã cử đoàn công tác trực tiếp về gặp gỡ gia đình, địa phương thông báo vụ việc, động viên, giúp đỡ gia đình và thực hiện công tác chính sách, tổ chức tang lễ cho quân nhân Nguyễn Văn Nghiệp theo đúng quy định. Tuy nhiên, do khoảng thời gian quân nhân Nghiệp lâm bệnh và tử vong trùng với thời điểm các địa phương trên cả nước tổ chức lễ giao nhận quân hằng năm. Đây là sự kiện quan trọng của các địa phương, thu hút sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong cả nước, nên các thế lực xấu đã lợi dụng tung tin xuyên tạc, vu khống nhằm tạo tiếng vang, kích động, lôi kéo, tạo ra trào lưu chống đối việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của thanh niên. Vì thế, hành động này cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ./.

Luật nhân quả và câu chuyện của những người trong cuộc

 Trong dòng chảy bất tận của cuộc sống, mỗi người đều đang tham gia vào một hành trình mang tên "nhân quả". Dù muốn hay không, chúng ta vẫn chịu sự tác động của quy luật này, nơi mà mỗi hành động, lời nói hay suy nghĩ đều có thể dẫn đến những kết quả tương ứng.


Nhiều người tin rằng những điều tốt đẹp hay khó khăn trong cuộc đời hiện tại là hậu quả từ những hành động của kiếp trước. Tuy nhiên, theo quan điểm của Phật giáo, luật nhân quả không chỉ vận hành qua nhiều kiếp sống mà còn diễn ra ngay trong từng khoảnh khắc. Một hành động nhỏ hôm nay có thể mang lại kết quả tức thì, hoặc vài tháng, thậm chí vài năm sau. Quả báo không phải lúc nào cũng chờ đến kiếp sau mới xuất hiện, mà có thể đến ngay trong đời này. Vì thế, trong một kiếp người, có lúc ta nhận được quả ngọt, nhưng cũng có khi phải đối diện với những hệ quả không mong muốn.

Thực tế, có những cá nhân đạt được vị trí cao trong xã hội nhờ những nỗ lực và việc làm thiện lành trong quá khứ. Nhưng nếu khi nắm quyền, họ tạo ra những hành động sai trái, hậu quả có thể đến ngay khi họ còn tại chức. Đối với một số người, sự trừng phạt có thể nghiêm khắc, nhưng với những người đã tích lũy nhiều công lao, sự bù trừ giữa cái tốt và cái xấu có thể làm cho hình phạt trở nên nhẹ nhàng hơn. Luật nhân quả không bất công mà vận hành theo nguyên tắc cộng hưởng giữa thiện và ác.

Nhìn vào câu chuyện của Minh Tuệ, chúng ta có thể thấy rõ sự vận hành của quy luật này. Trước năm 2024, ông là người nhận được sự kính trọng lớn nhờ quá trình tu hành khổ hạnh. Nhưng từ cuối năm 2024, một loạt những sai lầm trong phương pháp hành đạo đã khiến ông đối mặt với khủng hoảng. Nội bộ đoàn hành hương của ông rạn nứt, người từng ủng hộ dần quay lưng. Điều này không phải do một thế lực siêu nhiên nào can thiệp, mà đơn giản là hệ quả của những gì chính ông đã tạo ra.

Tương tự, ông Báu cũng không tránh khỏi những rắc rối do những hành động trong quá khứ. Khi một người gieo nhân, dù tốt hay xấu, quả báo sẽ đến vào một thời điểm thích hợp. Một số người lý giải những khó khăn của Minh Tuệ là do bị thử thách như nhân vật Đường Tăng trong Tây Du Ký. Tuy nhiên, Tây Du Ký là một tác phẩm văn học chứ không phải kinh điển Phật giáo. Thực tế, quan điểm trong Tây Du Ký đôi khi mâu thuẫn với luật nhân quả trong đạo Phật.

Cách xưng hô dành cho Minh Tuệ cũng phản ánh sự thay đổi trong cách nhìn nhận của mọi người. Trước đây, ông được gọi là "Thầy" hay "Ngài" với sự tôn trọng, nhưng khi những hành động và phát ngôn không còn phù hợp với giáo lý Phật giáo, nhiều người bắt đầu gọi ông là "ông" như một cách thể hiện sự xa cách. Điều này không phải là sự thay đổi thất thường, mà là phản ánh nhận thức thực tế theo diễn biến của sự kiện.

Hiện tại, đoàn của Minh Tuệ đang tạm trú tại một cơ sở của chính quyền Thái Lan, thay vì tiếp tục hành trình khất thực như mong muốn ban đầu. Đây chính là một "quả" trong chuỗi nhân quả mà ông đã tạo ra. Những diễn biến tiếp theo có thể đưa ông trở lại con đường hành đạo hoặc dẫn đến một kết cục khác. Dù thế nào, câu chuyện của Minh Tuệ vẫn tiếp tục thu hút sự chú ý của công chúng.

Nhìn xa hơn, hành trình của Minh Tuệ không chỉ đơn thuần là một chuyến đi, mà còn là một minh chứng sống động về quy luật nhân quả. Dù có người cho rằng câu chuyện của ông không đáng quan tâm, nhưng thực tế, nó vẫn mang đến nhiều bài học về cuộc sống, đạo đức và cách con người tự chịu trách nhiệm với hành động của mình.

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2025

Sự ngộ nhận và niềm tin trong hành trình hộ độ

 Trong lịch sử Phật giáo, có rất nhiều câu chuyện về những bậc chân tu hành trì khổ hạnh, từ bỏ mọi dục vọng thế gian để đạt đến giải thoát. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, không phải ai cũng đạt đến cảnh giới đó, và không phải cứ sống khổ hạnh là đã đạt giác ngộ. Trường hợp của ông Thích Minh Tuệ và tiến sĩ Đoàn Văn Báu là một ví dụ tiêu biểu về sự nhầm lẫn trong niềm tin, dẫn đến nhiều hậu quả đáng tiếc.


Tiến sĩ Đoàn Văn Báu, xuất phát từ lòng kính trọng đối với hạnh đầu đà (khổ hạnh) của ông Thích Minh Tuệ, đã đặt trọn niềm tin rằng ông Tuệ đã đạt đến một cảnh giới tu tập cao siêu. Điều này khiến anh không ngần ngại dốc hết tâm sức hỗ trợ ông Tuệ từ những việc nhỏ nhất như thủ tục pháp lý, giấy tờ cho đến việc đồng hành cùng ông trên hành trình hành đạo. Tuy nhiên, trong kinh điển Phật giáo, Đức Phật luôn dạy rằng giác ngộ không thể chỉ dựa vào hình thức bên ngoài. Trong Kinh Kalama, Đức Phật khuyên các đệ tử không nên tin vào bất kỳ điều gì chỉ vì nghe người khác nói, vì truyền thống, hay vì kính trọng ai đó. Ngài dạy rằng không nên tin chỉ vì điều đó được truyền miệng lại từ xưa, chỉ vì điều đó là tập quán, hay chỉ vì điều đó được lập luận một cách khéo léo và có vẻ hợp lý. Niềm tin mù quáng, không dựa trên sự kiểm chứng, có thể dẫn đến nhiều sai lầm. Trong trường hợp này, anh Báu đã không nhận ra rằng ông Tuệ dù có thực hành khổ hạnh nhưng vẫn chưa đủ phẩm chất của một bậc chân tu.

Một trong những sai lầm lớn của anh Báu là việc so sánh ông Tuệ với Đức Phật. Anh tin rằng cũng giống như Đức Phật từng hóa độ cho những vị tu sĩ có lối sống sai trái, ông Tuệ cũng có thể giúp đỡ những người theo mình giác ngộ. Vì vậy, anh đã đồng ý để nhiều người nhập đoàn theo ý của ông Tuệ, bất chấp việc họ có thể không thực sự tu tập nghiêm túc. Tuy nhiên, cần hiểu rằng Đức Phật là bậc Chánh đẳng Chánh giác, đạt đến trí tuệ siêu việt, còn những người trong thời hiện đại, kể cả những tu sĩ sống khổ hạnh, vẫn chưa thể đạt đến mức độ đó. Chúng ta không thể áp dụng câu chuyện của Đức Phật để biện minh cho những quyết định thiếu suy xét trong thực tế. Trong Kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật từng cảnh báo về những kẻ giả danh tu hành, rằng có hai hạng người sống trong đời: một là bậc chân tu, hai là kẻ giả danh sa môn. Bậc chân tu sống theo giới luật, lấy trí tuệ làm đầu, còn kẻ giả danh sa môn chỉ lấy hình thức, lời nói để đánh lừa kẻ khác. Việc đặt niềm tin mù quáng vào một cá nhân mà không quan sát kỹ phẩm hạnh và trí tuệ của họ có thể dẫn đến hậu quả khôn lường.

Trong suốt hành trình đồng hành cùng ông Tuệ, anh Báu đã tin vào những lời dạy mang tính triết lý của ông, chẳng hạn như "Có cũng được, không có cũng được" hay "Tất cả đều tốt đẹp, không có gì là xấu cả." Những câu nói này nghe qua có vẻ rất thiền vị, nhưng thực tế, khi một người thực sự đạt đến sự an nhiên thì họ không còn sân si, không còn coi thường hay khinh miệt người khác. Khi đối mặt với mâu thuẫn, thay vì điềm tĩnh giải quyết, ông Tuệ lại thể hiện rõ sự nóng giận, phản bác, và thậm chí có những lời lẽ thiếu tôn trọng với những người từng giúp mình. Điều này trái ngược hoàn toàn với tinh thần từ bi hỷ xả của Phật giáo. Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy rằng chiến thắng bản thân mình còn vĩ đại hơn chiến thắng ngàn vạn quân địch ngoài chiến trường. Người thực sự cao thượng là người kiểm soát được tham sân si trong tâm mình. Việc ông Tuệ tỏ ra bất cần, xem nhẹ những người giúp đỡ mình cho thấy ông chưa thể kiểm soát được tâm mình, vậy thì làm sao có thể gọi là chân tu?

Dù bị khinh miệt, dù bị coi thường, anh Báu vẫn cố gắng giúp đỡ ông Tuệ với tâm thế khiêm nhường. Tuy nhiên, chính sự bao dung và nhẫn nhịn quá mức này đã vô tình nuôi dưỡng bản ngã của ông Tuệ, khiến ông ngày càng cho rằng mình là bậc chân tu, người khác phải kính trọng và nương theo. Cuối cùng, sau tất cả những gì đã làm, anh Báu vẫn bị xem như một kẻ "tào lao bí đao." Điều này là một bài học sâu sắc trong nhận thức: lòng tốt cần có trí tuệ, giúp đỡ người khác là việc thiện lành, nhưng nếu giúp sai người, lòng tốt có thể bị lợi dụng. Không nên cưỡng cầu, khi một mối quan hệ đã không còn duyên, hãy buông bỏ. Mọi pháp hữu vi đều vô thường, hãy tùy duyên mà sống, đừng níu kéo những gì không thuộc về mình. Không nên chỉ tin vào hình thức, không phải cứ mặc áo cà sa, sống khổ hạnh là đã đạt đạo. Đức Phật từng cảnh báo về những "sư giả" lợi dụng lòng tin của người khác để mưu cầu danh lợi.

Những người yêu quý ông Thích Minh Tuệ, nếu thực sự muốn tốt cho ông, hãy tự đứng ra giúp đỡ thay vì chỉ trích những người đã từng hỗ trợ. Nếu không đủ khả năng làm điều gì có ích, ít nhất cũng nên biết ơn những người đang làm thay mình. Như trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật dạy rằng "người biết ơn là người đáng kính, kẻ vô ơn là kẻ đáng trách". Câu chuyện này là một bài học lớn về niềm tin trong Phật giáo. Đức Phật dạy rằng trí tuệ là ngọn đèn soi sáng cho niềm tin, không có trí tuệ thì niềm tin có thể biến thành u mê. Hy vọng rằng từ sự việc này, mỗi người sẽ rút ra bài học cho riêng mình, không để niềm tin bị đặt sai chỗ, và không để lòng tốt bị lợi dụng một cách vô nghĩa.