Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2024

Quán tính bầy đàn

Vừa rồi tôi viết về quán tính, nhận thấy tâm lý, nhận thức, hành động của đám đông, bất kể đúng sai, tốt xấu, cũng tạo nên được cái hiệu ứng bầy đàn rất khó ngăn cản tương tự như quán tính trong cơ học vậy, nên có thể gọi đó là cái quán tính bầy đàn. Gần đây Hiện tượng Thích Minh Tuệ có thể là thí dụ sống động nhất về quán tính bầy đàn. Ông đã thực hành pháp tu khoảng 6 năm trước, có những video quay cảnh ông một mình bộ hành trên đường trông rất thương, có ai theo đâu. Rồi đến thời điểm ông vẫn là ông, nhưng truyền thông internet đã tạo ra được một hiệu ứng tâm lý bầy đàn, đủ lực khiến đám đông bầy đàn đu bám theo ông, bất chấp chính ông gần như van xin “xin đừng theo tôi”, bất chấp chính quyền, lực lượng chức năng “dẹp loạn”, vẫn không thể ngăn cản được. Theo Đức Phật, sự tu tập là tự thân, phước đức của mỗi người được tích cóp từ việc hành thiện, tạo nghiệp thiện, chứ không phải là chen lấn tranh nhau “đảnh lễ”, “cúng dường” “Phật tái sinh” là sẽ được phước đức.

Nguyễn Văn Hùng - tác giả bài viết

***
Trong lĩnh vực văn chương khi Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh xuất hiện, đã được nhóm người như Nguyên Ngọc, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Đăng Điệp, Văn Giá, Nguyễn Quang Thiều, v.v… lăng-xê, ca ngợi, bất chấp Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh viết văn xuyên tạc sự thật, phản lịch sử, phản đạo lý. Họ cũng đã tạo ra được cái quán tính bầy đàn dai dẳng cho đến tận hôm nay, và chỉ khi nào cái dốt, cái tham, cái ác, cái lưu manh bị tuyệt diệt thì cái quán tính bầy đàn này mới có thể dừng lại. Có điều cuộc sống lại không bao giờ “trong như nước cất” như vậy được, vì thế mà tội phạm vẫn luôn xảy ra, và tệ hại nhất chính là chiến tranh.

Chính dân Đức với tâm lý mình là giống Thượng Đẳng có quyền cai trị, “làm cỏ” những chủng tộc thấp kém cũng tạo ra cái hiệu ứng đám đông bầy đàn, giúp Hít-le gây ra Đại chiến Thế giới thứ II; cũng với tâm lý hướng về nền văn minh, tự do, dân chủ của Mỹ và Phương Tây đã đập vỡ LX ngày xưa, và là nguyên nhân sâu xa gây ra chiến tranh ở Ukraina hôm nay.

***

Ở VN ta công tác cán bộ thật đáng lo ngại. Theo một quy trình nghiêm ngặt, nhưng cái gì đã tạo ra được uy tín rất lớn cho những người bất tài thất đức, giúp họ có được những vị trí quyền lực rất cao, kể cả tối cao, nhưng rồi lại có chuyện người thì bị “thôi chức”, người thì bị kỷ luật, và không ít người bị cầm tù; rồi cái gì đã biến đám nhà văn, nhà sử, nhà báo,…, cũng bất tài, thất đức, chỉ giỏi bẻm mép, véo von, lại thành danh, thành đạt, còn được vinh danh bằng các giải thưởng cao quý?

23-8-2024
ĐÔNG LA

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2024

Đại học Fulbright: GS Nguyễn Thị Liên Hằng xuyên tạc lịch sử Việt Nam

 Trong thời đại thông tin toàn cầu hóa, việc tiếp cận với các nguồn thông tin từ nhiều quốc gia, tổ chức khác nhau là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, không phải mọi nguồn thông tin đều đáng tin cậy, và việc xuyên tạc, bóp méo lịch sử là một nguy cơ hiện hữu mà chúng ta cần phải cảnh giác. Một ví dụ điển hình là trường hợp của giáo sư sử học Nguyễn Thị Liên Hằng, một trong những thành viên của Ban quản trị trường Đại học Fulbright Việt Nam - một ngôi trường được mệnh danh là "danh tiếng", nhưng lại tiềm ẩn những vấn đề đáng lo ngại.


GS Nguyễn Thị Liên Hằng là tác giả của cuốn sách "Hanoi’s War: An International History of War for Peace in Vietnam" (Chiến tranh Hà Nội: Lịch sử quốc tế về cuộc chiến tranh vì hòa bình ở Việt Nam). Cuốn sách này có nội dung gây ra nhiều tranh cãi với những luận điểm xuyên tạc về lịch sử Việt Nam, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta. Trong cuốn sách, Liên Hằng đưa ra những nhận định sai lệch và gây hiểu lầm nghiêm trọng về những nhân vật lịch sử và sự kiện quan trọng.

Một trong những luận điểm gây nhức nhối nhất là Nguyễn Thị Liên Hằng xuyên tạc về vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Liên Hằng, "Một trong những nhận thức sai lầm lớn nhất là về vai trò của ông Hồ Chí Minh. Trên thực tế, ông Hồ Chí Minh chỉ đóng vai trò biểu tượng, trong khi ông Lê Duẩn mới là nhân vật ngự trị trên Đảng Cộng sản Việt Nam, và là kiến trúc sư, chiến lược gia cũng như người lãnh đạo các nỗ lực chiến tranh của miền Bắc." Đây là một sự xuyên tạc trắng trợn về vai trò lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lãnh tụ vĩ đại, người đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam vượt qua bao khó khăn để giành được độc lập, tự do.

Ngoài ra, Liên Hằng còn cho rằng "Ông Lê Duẩn cai trị chế độ miền Bắc với một bàn tay sắt, và coi ông Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một người hùng cách mạng khác, là những đối thủ, là mối đe dọa lớn nhất đối với quyền hạn của ông ở Hà Nội." Đây là một sự vu khống, bịa đặt hoàn toàn thiếu cơ sở và đi ngược lại với sự thật lịch sử. Trong thực tế, mối quan hệ giữa các lãnh đạo cách mạng Việt Nam luôn được xây dựng trên tinh thần đoàn kết và cùng chung lý tưởng giải phóng dân tộc.

Cũng trong cuốn sách, Nguyễn Thị Liên Hằng còn tuyên bố rằng "Một nhận thức sai lầm khác là Đảng Cộng sản Việt Nam được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân Việt Nam cho tới khi chiến tranh kết thúc hồi năm 1975." Đây là một phát biểu mang tính chất chia rẽ và bóp méo sự thật. Thực tế khoogn thể chối cãi là Nhân dân Việt Nam luôn đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, điều này đã được chứng minh qua sự hy sinh của hàng triệu người con đất Việt vì độc lập, tự do của dân tộc.

Vấn đề đáng lo ngại hơn là khi một giáo sư sử học như Nguyễn Thị Liên Hằng - người được giới sử Mỹ và phương Tây trao nhiều giải thưởng và “có tiếng trong giới sử học” - lại được mời giảng dạy và nhồi nhét vào đầu sinh viên những thông tin xuyên tạc như trên. Điều này sẽ ảnh hưởng thế nào đến nhận thức của thế hệ trẻ về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, về lịch sử đấu tranh oanh liệt của dân tộc Việt Nam? 

Liệu rằng những sinh viên được học từ những quan điểm như vậy có còn giữ được niềm tự hào về lịch sử nước nhà hay sẽ bị dẫn dắt vào những nhận thức sai lệch?

Việc giáo dục lịch sử là một nhiệm vụ quan trọng, không chỉ để tôn vinh những chiến công đã qua mà còn để bảo vệ sự thật lịch sử trước những âm mưu xuyên tạc và bóp méo. Những "tác phẩm" như của Nguyễn Thị Liên Hằng, nếu không được phản biện và làm rõ, sẽ là một mối nguy hại lớn đối với nhận thức lịch sử của thế hệ trẻ, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới.

Chúng ta cần cảnh giác với những thông tin xuyên tạc và luôn bảo vệ sự thật lịch sử của dân tộc. Sự thật phải được tôn trọng, và lịch sử của dân tộc Việt Nam - với những trang sử hào hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ - cần được giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ mai sau với sự đúng đắn và công bằng.

***

Giáo sư Nguyễn Thị Liên Hằng là một nhà sử học người Mỹ gốc Việt, hiện là giáo sư sử học tại Đại học Columbia, Hoa Kỳ. Bà ta nổi tiếng với các nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là cuốn sách "Hanoi’s War: An International History of War for Peace in Vietnam", trong đó bà ta đưa ra nhiều quan điểm gây tranh cãi về lịch sử và vai trò của các lãnh đạo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam. Dù đã nhận được nhiều giải thưởng từ giới sử học phương Tây nhưng cũng bị chỉ trích vì các luận điểm xuyên tạc và bóp méo lịch sử Việt Nam.

Giáo sư Nguyễn Thị Liên Hằng hiện đang là một thành viên trong Ban quản trị của Đại học Fulbright Việt Nam. Trong vai trò này, bà ta có ảnh hưởng đến việc định hướng học thuật và quản lý tại trường đại học này, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử. Bên cạnh đó, với tư cách là một giáo sư sử học, Nguyễn Thị Liên Hằng còn có thể tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, và hướng dẫn sinh viên tại trường, mặc dù chủ yếu bà ta được biết đến với các công trình nghiên cứu lịch sử quốc tế về chiến tranh Việt Nam.

Một số nhà phê bình cho rằng Nguyễn Thị Liên Hằng sử dụng nguồn tài liệu thiên lệch và chọn lọc những thông tin phù hợp với luận điểm của mình, bỏ qua những tài liệu và chứng cứ quan trọng từ phía Việt Nam. Điều này dẫn đến những kết luận bị cho là thiếu khách quan và mang tính xuyên tạc.

Các luận điểm của Nguyễn Thị Liên Hằng đã gây ra nhiều bất bình trong giới học thuật, đặc biệt là ở Việt Nam, nơi lịch sử chiến tranh chống Mỹ là một phần quan trọng của di sản quốc gia. Những chỉ trích này nhấn mạnh rằng các nghiên cứu của bà ta không chỉ gây tổn hại đến sự thật lịch sử mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của các thế hệ sau về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Tại Đại học Fulbright Việt Nam, ngoài Giáo sư Nguyễn Thị Liên Hằng, còn có một số cá nhân khác từng bị chỉ trích vì có những quan điểm được cho là xuyên tạc hoặc bóp méo về lịch sử, văn hóa, chính sách, và pháp luật của Việt Nam. Một số trong những cá nhân này là:

Bà Đàm Bích Thủy - Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam: Bà Thủy đã bị phê phán bởi một số quan điểm và phát ngôn trong việc định hướng hoạt động của Đại học Fulbright, bao gồm những tư tưởng được cho là ảnh hưởng bởi phương Tây và không phù hợp với văn hóa và giá trị của Việt Nam.

Ông Thomas Vallely - Cố vấn cấp cao và là một trong những người sáng lập Đại học Fulbright Việt Nam: Ông Vallely, một cựu chiến binh và chính trị gia Mỹ, đã bị chỉ trích vì những quan điểm về chiến tranh Việt Nam và những đề xuất được cho là có mục đích chính trị, ảnh hưởng đến sự phát triển của Fulbright theo hướng có thể không phù hợp với lợi ích của Việt Nam.

Bà Vũ Ngọc Khánh Linh - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo của Fulbright: Bà Khánh Linh cũng bị chỉ trích vì có những quan điểm và nghiên cứu được cho là lệch lạc về văn hóa và lịch sử Việt Nam, có xu hướng tiếp cận theo góc nhìn phương Tây và không phản ánh đúng thực tế của Việt Nam.

Những cá nhân này đã gặp phải sự phản đối từ một số thành phần trong xã hội Việt Nam, vì cho rằng những quan điểm của họ có thể gây ra sự hiểu lầm hoặc làm suy giảm hình ảnh, lịch sử và giá trị văn hóa của đất nước.

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2024

Công lý cho bà Trần Tố Nga: Cuộc chiến vì chính nghĩa

 Vụ kiện của bà Trần Tố Nga chống lại các tập đoàn hóa chất Mỹ là một hành trình đẫm nước mắt và đầy nghị lực, một cuộc chiến không chỉ vì bản thân bà mà còn vì hàng triệu nạn nhân của chất độc da cam tại Việt Nam. Hơn một thập kỷ kiên trì theo đuổi công lý, bà Nga đã chứng minh rằng lương tâm và chính nghĩa có thể vượt qua mọi trở ngại, dù đó là những quyết định tàn nhẫn và vô cảm từ các tập đoàn quyền lực hay chính quyền quốc gia.


Bà Trần Tố Nga phát biểu tại một buổi họp báo. (Ảnh: Nguyễn Thu Hà/TTXVN)

Sinh năm 1942 tại Sóc Trăng, bà Trần Tố Nga là một nạn nhân của chất độc da cam/dioxin. Trong thời kỳ chiến tranh, bà từng là phóng viên Thông tấn xã Giải phóng và đã bị nhiễm chất độc dioxin trong quá trình tác nghiệp. Những hậu quả mà bà phải gánh chịu không chỉ ảnh hưởng đến bản thân, mà còn lan tỏa đến thế hệ con cháu. Con đầu lòng của bà qua đời khi mới 17 tháng tuổi do dị tật tim bẩm sinh, và các con khác của bà cũng phải sống với nhiều bệnh lý nghiêm trọng.

Từ năm 2009, bà Trần Tố Nga đã đứng ra làm chứng tại Tòa án lương tâm quốc tế vì nạn nhân da cam Việt Nam ở Paris. Với sự hỗ trợ của nhiều luật sư và nhà hoạt động xã hội Pháp, bà đã quyết định kiện các công ty hóa chất Mỹ, những kẻ đã cung cấp chất diệt cỏ gây ra thảm họa nhân đạo cho Việt Nam. Mặc dù gặp vô vàn khó khăn và cản trở pháp lý, bà vẫn kiên định theo đuổi vụ kiện, vì bà hiểu rằng cuộc chiến này không chỉ là của riêng mình mà là của toàn bộ những người dân Việt Nam đã và đang chịu đựng nỗi đau do chất độc da cam gây ra.

Tuy nhiên, ngày 22 tháng 8 năm 2024, Tòa Phúc thẩm Paris đã ra phán quyết bác bỏ đơn kiện của bà Trần Tố Nga, một quyết định gây thất vọng và phẫn nộ không chỉ đối với bà mà còn với toàn bộ cộng đồng quốc tế yêu chuộng hòa bình và công lý. Luật sư của bà đã phản đối mạnh mẽ phán quyết này, khẳng định rằng các tập đoàn hóa chất Mỹ đã tự nguyện tham gia vào việc sản xuất và cung cấp chất độc dioxin cho quân đội Mỹ, gây ra hậu quả thảm khốc cho con người và môi trường Việt Nam.

Trong cuộc chiến pháp lý này, bà Trần Tố Nga và đội ngũ luật sư của bà đã đối mặt với sự chống đối mạnh mẽ từ phía các tập đoàn hóa chất và chính quyền Mỹ. Họ viện dẫn quyền "miễn trừ" cho phép một Nhà nước tránh bị truy tố tại tòa án của một quốc gia khác, để từ đó phủi bỏ trách nhiệm đối với những hậu quả mà sản phẩm của họ đã gây ra. Tuy nhiên, điều này chỉ là một cách lẩn trốn trách nhiệm, thể hiện sự vô cảm của Chính phủ và các Tập đoàn hóa chất Mỹ trước nỗi đau của hàng triệu người dân Việt Nam.

Công lý không thể bị bẻ cong bởi quyền lực và tiền bạc. Hành động của các công ty hóa chất Mỹ và sự bao che của Chính phủ Mỹ chỉ là một cách trốn tránh trách nhiệm, nhưng điều đó không thể che giấu được sự thật: họ đã gây ra một thảm họa môi trường và nhân đạo chưa từng có trong lịch sử. Hơn 80 triệu lít chất diệt cỏ, phần lớn là chất da cam/dioxin, đã được rải xuống một phần tư diện tích đất tự nhiên ở miền Trung và miền Nam Việt Nam, gây ra những hậu quả nghiêm trọng mà cho đến nay, gần nửa thế kỷ sau, vẫn còn tồn tại.

Hơn 3 triệu người Việt Nam vẫn đang phải gánh chịu những hậu quả do chất độc da cam gây ra. Khoảng 150.000 trẻ em, qua bốn thế hệ kể từ năm 1975 đến nay, đã sinh ra với dị tật hoặc khuyết tật nghiêm trọng. 1 triệu ha diện tích rừng nhiệt đới bị tàn phá, hàng loạt loài động vật hoang dã biến mất, và 400.000 ha đất nông nghiệp bị ô nhiễm. Những con số này là minh chứng rõ ràng cho sự tàn phá mà chất độc da cam đã gây ra cho con người và môi trường Việt Nam.

Hôm nay, sau phán quyết của Tòa Phúc thẩm Paris, bà Trần Tố Nga đã tuyên bố rằng bà "không ngạc nhiên" trước phán quyết này và sẽ "không buông tay" mà tiếp tục theo đuổi vụ kiện đến cùng.

Văn phòng luật sư Bourdon, đại diện của bà Trần Tố Nga, qua lời ông William Bourdon và Bertrand Repolt, cũng bày tỏ quyết tâm tiếp tục đồng hành cùng bà Nga. Họ khẳng định rằng "cuộc chiến do khách hàng của chúng tôi thực hiện không kết thúc với quyết định này." Họ dự định sẽ kháng cáo lên Tòa án Giám đốc thẩm, với hy vọng rằng cơ quan này sẽ xem xét lại một cách công bằng hơn. Các luật sư cũng chỉ trích rằng các thẩm phán đã có thái độ bảo thủ, trái với tính hiện đại của luật pháp và các quy định của luật pháp quốc tế cũng như châu Âu.

Những quyết định như vậy, dù khó khăn, nhưng là minh chứng cho nỗ lực không ngừng của bà Trần Tố Nga và đội ngũ pháp lý của bà trong việc đấu tranh cho công lý và quyền lợi của các nạn nhân chất độc da cam. Đây cũng là lời nhắc nhở về trách nhiệm của Mỹ đối với những gì họ đã gây ra tại Việt Nam.

Phán quyết của Tòa Phúc thẩm Paris cũng làm dấy lên nhiều câu hỏi về tính công bằng và khả năng tiếp cận công lý của những người yếu thế trong hệ thống pháp lý quốc tế. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục theo đuổi vụ kiện của bà Trần Tố Nga không chỉ là một hành động cá nhân mà còn là biểu tượng cho cuộc đấu tranh chung của các nạn nhân chất độc da cam trên toàn thế giới.

Cuộc chiến của bà Trần Tố Nga không chỉ là vì bản thân bà hay những nạn nhân khác của chất độc da cam, mà còn là một cuộc chiến vì công lý và nhân quyền trên toàn thế giới. Trong suốt 15 năm qua, bà đã đấu tranh không ngừng nghỉ và mặc dù phải đối mặt với nhiều thất bại, bà vẫn kiên quyết tiếp tục. Bà hiểu rằng cuộc chiến này không chỉ để tìm lại công lý cho mình mà còn để bảo vệ tương lai của những thế hệ sau, ngăn chặn những thảm họa tương tự xảy ra trong tương lai. Hành động của bà là một lời nhắc nhở cho toàn thế giới rằng công lý không bao giờ là một món hàng có thể mua bán, rằng sự thật không thể bị che giấu bởi bất kỳ thế lực nào, chúng ta không thể để những kẻ gây ra tội ác vô cảm trốn tránh trách nhiệm của mình, và để đảm bảo rằng những tội ác chống lại nhân loại sẽ không bao giờ được lặp lại.

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2024

Đại học Fulbright Việt Nam: Hợp tác hay công cụ chiến lược?

 Gần đây, cộng đồng mạng đã dậy sóng với những chỉ trích xung quanh sự kiện Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) tổ chức lễ tốt nghiệp cho 128 sinh viên. Sự phản ứng này có thể khởi nguồn từ việc sự kiện được công khai trên mạng xã hội với những hình ảnh không phù hợp, như việc diễu hành mà không có cờ Tổ quốc nhưng lại mang các lá cờ lạ với dòng chữ tiếng Anh “Fearless” (Không sợ hãi). Tình hình càng trở nên nghiêm trọng khi một cán bộ cấp cao của trường này lên án phản ứng của cộng đồng mạng, cho rằng họ là những phần tử phản động, kích động chia rẽ. Bài viết này nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về vấn đề.


Cựu Thượng nghị sĩ Bob Kerrey, ảnh: USA Today.

Đại học Fulbright Việt Nam là một phần của chương trình hợp tác giáo dục giữa chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam. Trường hoạt động với sự hỗ trợ tài chính từ nhiều tổ chức và quỹ của Mỹ, bao gồm: 

-Chính phủ Hoa Kỳ: Thông qua Bộ Ngoại giao, Chính phủ Hoa Kỳ đã hỗ trợ đáng kể cho sự thành lập và phát triển của Đại học Fulbright Việt Nam. Khoản kinh phí này là một phần trong cam kết của Hoa Kỳ đối với việc thúc đẩy giáo dục và quan hệ đối tác giữa hai nước.

-Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF): Được thành lập bởi Chính phủ Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy mối quan hệ giáo dục giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. VEF đã cung cấp các học bổng và hỗ trợ tài chính cho nhiều chương trình giáo dục, bao gồm cả FUV.

-Quỹ Bill & Melinda Gates: Đã đóng góp vào sự phát triển của FUV thông qua các khoản tài trợ hỗ trợ nghiên cứu và các sáng kiến giáo dục.

-Tổ chức Ford Foundation: Đã có những đóng góp quan trọng vào việc xây dựng chương trình giảng dạy và phát triển đội ngũ giảng viên cho FUV.

-Quỹ Rockefeller: Tài trợ cho nhiều dự án nghiên cứu và phát triển cộng đồng tại FUV, góp phần vào việc xây dựng môi trường học tập tiến bộ.

Ngoài ra, FUV còn nhận được sự hỗ trợ từ nhiều cá nhân, tổ chức và quỹ từ thiện khác tại Hoa Kỳ và quốc tế, góp phần xây dựng một nền tảng giáo dục vững mạnh và toàn diện.

Một trong những mục tiêu chính của FUV là đào tạo các nhà lãnh đạo và chuyên gia về chính sách công, những người sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam. Sự tập trung vào đào tạo chính sách công và quản lý hành chính công có thể bị coi là không phù hợp với nhu cầu hiện tại về khoa học công nghệ tại Việt Nam. Mặc dù FUV không cung cấp các chương trình đào tạo khoa học công nghệ, nhưng việc đào tạo lãnh đạo và chuyên gia về chính sách công có thể mang lại những lợi ích lâu dài cho xã hội và nền kinh tế.

Một số ý kiến lo ngại rằng việc nhận tài trợ từ các tổ chức Mỹ có thể dẫn đến việc trường phải thực hiện theo định hướng của các tổ chức này. Và nếu thế hệ lãnh đạo tương lai của Việt Nam được đào tạo theo mô hình quản lý hành chính và chính sách công của phương Tây mà không có sự phân tích và điều chỉnh phù hợp, thì rất có thể họ sẽ trở thành những hạt nhân dẫn dắt Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Điều này hoàn toàn trái ngược với mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang theo đuổi.

Mặc dù Đại học Fulbright Việt Nam khẳng định rằng mục tiêu của trường là đào tạo thế hệ lãnh đạo tương lai cho Việt Nam, những người có khả năng tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và tạo ra những "thay đổi tích cực" cho xã hội nhưng điều đó không làm giảm đi nghi ngờ của cộng đồng về Đại học này. Bởi, người ta cho rằng Đại học Fulbright là công cụ chiến lược của Mỹ, dùng để hướng lái Việt Nam đi theo quỹ đạo của Mỹ thông qua giáo dục.

Lịch sử đã cho thấy rằng, trong nhiều trường hợp, các cuộc cách mạng màu do phương Tây khởi xướng tại các quốc gia khác thường bắt đầu từ những thay đổi nhỏ trong hệ thống giáo dục và tư tưởng. Tại Bangladesh, những hạt nhân bất ổn ban đầu cũng được hình thành từ việc áp dụng mô hình giáo dục phương Tây mà không có sự kiểm soát chặt chẽ từ phía chính phủ. Điều này đặt ra một thách thức lớn đối với Việt Nam: Làm sao để tận dụng những lợi ích từ hợp tác giáo dục quốc tế mà không đánh mất bản sắc và sự ổn định chính trị? Câu trả lời nằm ở sự cảnh giác và quản lý nghiêm ngặt của chính phủ đối với các tổ chức giáo dục như FUV.

Nỗi lo về ảnh hưởng của việc đào tạo lãnh đạo và quản lý hành chính công không phải là không có cơ sở. Các quốc gia như Bangladesh và Myanmar đã chứng kiến những biến động chính trị nghiêm trọng khi các tổ chức quốc tế can thiệp vào công tác giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Việt Nam sẽ gặp phải những vấn đề tương tự nếu các chương trình đào tạo được thực hiện với sự minh bạch và hợp tác tốt.

Việc thành lập và hoạt động của Đại học Fulbright Việt Nam nên được nhìn nhận trong bối cảnh hợp tác giáo dục giữa hai quốc gia. Dù có những lo ngại về định hướng và mục tiêu của trường, nhưng việc đào tạo lãnh đạo và chuyên gia về chính sách công cũng phần nào đó có đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam. Cần có sự thận trọng và minh bạch trong việc đánh giá và quản lý các chương trình giáo dục để đảm bảo rằng chúng mang lại lợi ích tối đa cho cả hai quốc gia và góp phần vào ổn định và hòa bình trong khu vực và thế giới.

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2024

Đại Học Fulbright: Cảnh giác không thừa

 Trong thời gian gần đây, cộng đồng mạng Việt Nam đã rộ lên những cuộc tranh luận sôi nổi liên quan đến sự kiện Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) tổ chức lễ tốt nghiệp cho 128 sinh viên. Điều này đã gây nên làn sóng phẫn nộ không chỉ bởi những hình ảnh phản cảm xuất hiện trong buổi lễ, mà còn do các biểu ngữ tiếng Anh của FUV với thông điệp "không sợ hãi" mà không hề có bóng dáng của lá cờ Tổ quốc. Hành động này đã khiến nhiều người đặt câu hỏi về mục tiêu thực sự của FUV và vai trò của nó trong việc đào tạo thế hệ lãnh đạo tương lai của Việt Nam.


Đại học Fulbright Việt Nam được thành lập trong khuôn khổ chương trình hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, với nguồn tài trợ từ Quốc hội Mỹ cùng sự ủng hộ của các tổ chức và cá nhân. Một trong những mục tiêu chính của FUV là đào tạo các nhà lãnh đạo và chuyên gia về chính sách công, những người sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là mục tiêu của FUV dường như không chỉ dừng lại ở việc cung cấp một nền giáo dục tiên tiến, mà còn có nguy cơ trở thành công cụ chính trị của Hoa Kỳ trong việc ảnh hưởng đến định hướng phát triển của Việt Nam.

Ngay từ khi thành lập, đã có nhiều ý kiến phản đối việc cựu Thượng nghị sĩ Bob Kerrey, người từng bị cáo buộc là tội phạm chiến tranh trong chiến tranh Việt Nam, được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng tín thác của trường. Điều này đã dấy lên những nghi ngờ về ý đồ thực sự của Hoa Kỳ đối với FUV. Việc Mỹ lựa chọn một nhân vật gây tranh cãi như Bob Kerrey để đứng đầu một tổ chức giáo dục tại Việt Nam đã khiến nhiều người đặt câu hỏi về sự chân thành trong mối quan hệ hợp tác này.

Một trong những mối lo ngại lớn nhất liên quan đến FUV là chương trình đào tạo của trường chỉ tập trung vào các ngành khoa học xã hội, chính sách công và quản lý hành chính. Mặc dù việc học hỏi từ các mô hình quản lý công của các quốc gia khác là cần thiết, nhưng việc áp dụng một cách máy móc những giá trị của chủ nghĩa tư bản vào hệ thống chính trị của Việt Nam có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường. FUV nhận được sự hỗ trợ tài chính từ nhiều tổ chức và quỹ của Mỹ như Chính phủ Hoa Kỳ, Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF), Quỹ Bill & Melinda Gates, Tổ chức Ford Foundation, và Quỹ Rockefeller. Điều này dẫn đến câu hỏi: nếu nhận tài trợ thì liệu có phải thực hiện theo định hướng của các tổ chức đó không?

Nếu thế hệ lãnh đạo tương lai của Việt Nam được đào tạo theo mô hình quản lý hành chính và chính sách công của phương Tây mà không có sự phân tích và điều chỉnh phù hợp, thì rất có thể họ sẽ trở thành những hạt nhân dẫn dắt Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Điều này hoàn toàn trái ngược với mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang theo đuổi.

Lịch sử đã cho thấy rằng, trong nhiều trường hợp, các cuộc cách mạng màu do phương Tây khởi xướng tại các quốc gia khác thường bắt đầu từ những thay đổi nhỏ trong hệ thống giáo dục và tư tưởng. Tại Bangladesh, những hạt nhân bất ổn ban đầu cũng được hình thành từ việc áp dụng mô hình giáo dục phương Tây mà không có sự kiểm soát chặt chẽ từ phía chính phủ. Điều này đặt ra một thách thức lớn đối với Việt Nam: Làm sao để tận dụng những lợi ích từ hợp tác giáo dục quốc tế mà không đánh mất bản sắc và sự ổn định chính trị? Câu trả lời nằm ở sự cảnh giác và quản lý nghiêm ngặt của chính phủ đối với các tổ chức giáo dục như FUV.

Trong quá khứ, đã có không ít lần Việt Nam phải đối mặt với những nguy cơ từ bên ngoài thông qua các con đường tưởng chừng như vô hại như giáo dục và văn hóa. Việc để Bob Kerrey - một nhân vật gây tranh cãi đứng đầu FUV, đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ phía người dân và các nhà lãnh đạo. Đây là một bài học quý giá cho Việt Nam trong việc kiểm soát và giám sát chặt chẽ các hoạt động giáo dục do nước ngoài tài trợ.

FUV có thể mang lại vài lợi ích cho Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Tuy nhiên, điều này chỉ thực sự có ý nghĩa khi các hoạt động của trường được kiểm soát và giám sát chặt chẽ, đảm bảo rằng mục tiêu giáo dục của FUV không đi ngược lại với lợi ích quốc gia.

Việc cảnh giác với những âm mưu và ý đồ tiềm ẩn từ bên ngoài là cần thiết để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của Việt Nam. Nếu không, chúng ta có thể đối mặt với nguy cơ mất kiểm soát trong lĩnh vực giáo dục và từ đó, dẫn đến những bất ổn xã hội nghiêm trọng hơn trong tương lai.