Thứ Năm, 5 tháng 6, 2025

Sự thiển cận của Quốc Việt

  Mới đây, trên trang “Vietnamthoibao”, Quốc Việt đã đăng bài viết “Việt Nam gia nhập WTO năm 2007: Phân tích các điểm lợi và hại”, xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế đối ngoại và những thành tựu kinh tế Việt Nam đạt được từ khi gia nhập WTO. Quốc Việt cho rằng: “…Nhà nước biến việc tham gia WTO để biến Việt Nam thành một quốc gia làm thuê, biến (rất nhiều) người Việt Nam thành người làm thuê cho nước ngoài với mức lương rẻ mạt, không đủ sống và điều kiện làm việc tồi tệ”.

1. Cần khẳng định, Việt Nam gia nhập WTO là quyết định đúng đắn và những thành tựu về kinh tế của Việt Nam đạt được kể từ khi gia nhập WTO là không thể phủ nhận. Việt Nam ra nhập WTO là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và nhà nước ta, nhằm tạo ra khả năng hội nhập kinh tế quốc tế, tạo động lực và là động năng mạnh mẽ để giúp Việt Nam phát triển kinh tế, nâng cao quyền lực mềm, ngày càng trở thành một quốc gia cạnh tranh và hiện đại, đồng thời mang lại cho người dân cuộc sống tốt đẹp hơn. Quyết định gia nhập WTO không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam mà còn mang lại những cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong nước. Việt Nam đã có nền tảng để cải cách sâu rộng hơn về chính sách kinh tế, mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, quá trình này cũng đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao chất lượng sản phẩm và chuẩn bị tốt hơn để đáp ứng những tiêu chuẩn cao của thị trường quốc tế.

Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã trải qua một hành trình đầy biến động nhưng cũng đạt được những thành tựu đáng tự hào. Những nỗ lực trong việc mở cửa nền kinh tế, cải cách thể chế và tăng cường hợp tác quốc tế đã mang lại cho Việt Nam không chỉ sự tăng trưởng vượt bậc về thương mại, mà còn giúp thu hút nguồn đầu tư nước ngoài lớn, góp phần làm thay đổi diện mạo nền kinh tế Việt Nam, giúp Việt Nam có vị thế vững chắc trong khu vực và trên thế giới. Đến hết năm 2024, GDP của Việt Nam đạt 476 tỉ USD, lọt top 32, nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Việc Việt Nam gia nhập WTO đã thúc đẩy sự tăng trưởng thương mại, mở rộng hợp tác kinh tế và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Tính đến tháng 10/2024, Việt Nam đã ký kết, thực thi 17 FTA và đang đàm phán 2 FTA khác. Trong đó, các FTA thế hệ mới, bao gồm Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… Qua đó, giúp Việt Nam tiếp cận sâu rộng vào các thị trường lớn, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2023, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và EU đạt 72,3 tỷ USD. Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn nhất của EU trong ASEAN. Bên cạnh đó, thương mại với Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng ghi nhận nhiều tiến bộ, đưa Việt Nam trở thành đối tác thương mại quan trọng tại khu vực châu Á -      Thái Bình Dương. Nhờ mở rộng thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam đã có điều kiện cải thiện sản phẩm, nâng cao chất lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe.

2. Việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước, mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân và đất nước. Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm và xem là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là một phần của hợp tác quốc tế, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nước. Việt Nam hiện có hơn 500 doanh nghiệp dịch vụ được cấp phép đưa người lao động đến hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ làm việc, trong đó từ năm 2010 đến nay đã đưa trên 1,4 triệu lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn. Bình quân mỗi năm, các cơ quan, doanh nghiệp đưa khoảng 120.000 đến 143.000 lao động ra nước ngoài làm việc. Lượng kiều hối từ lực lượng lao động này gửi về đạt khoảng 3,54 tỉ USD, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Cùng với đó, công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được chú trọng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, doanh nghiệp.

Tóm lại, những luận điệu nêu ra trong bài viết của Quốc Việt đã bộc lộ dã tâm thâm độc, xuyên tạc sự thật về đường lối phát triển kinh tế đối ngoại và những thành tựu kinh tế Việt Nam đạt được từ khi gia nhập WTO của Đảng và Nhà nước, làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và chế độ. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ âm mưu, thủ đoạn trên./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2025

Cảnh giác trước những chiêu trò lợi dụng vấn đề bảo vệ môi trường để chống phá

 Trong thực hiện “diễn biến hoà bình” các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn luôn tìm mọi cách, bằng mọi thủ đoạn ra sức xuyên tạc, bịa đặt, chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đáng lưu ý những năm gần đây, trên không gian mạng, chúng lập ra những “diễn đàn bảo vệ môi trường” nhưng thực chất không phải là bảo vệ môi trường, mà là lợi dụng danh nghĩa bảo vệ môi trường để tiến hành các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống phá Việt Nam.


Môi trường là vấn đề toàn cầu, cũng như mọi quốc gia khác trên thế giới trong quá trình phát triển Việt Nam không tránh khỏi những khó khăn, bất cập, trong đó có vấn đề môi trường. Thế nhưng vì mục đích và động cơ đen tối các thế thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm cách để đào bới, khoét sâu, thổi phồng những tồn tại, hạn chế của Việt Nam. Từ những vụ việc nhỏ như doanh nghiệp xả thải, hay xây dựng các công trình gây ô nhiễm… là ngay lập tức chúng lu loa suy diễn, bóp méo, thổi phồng, quy kết thành bản chất của “chế độ độc Đảng” cầm quyền. Mạng xã hội được chúng triển để sử dụng nhằm phủ nhận những nỗ lực, cố gắng của Việt Nam trong giảm thiểu các hoạt động gây ô nhiễm môi trường, thổi phồng các vấn đề liên quan đến môi trường ở Việt Nam. Những thông tin, hình ảnh liên quan đến công tác bảo vệ môi trường của Việt Nam được chúng nguỵ tạo, cắt ghép, nhào nặn một cách tinh vi nhằm làm cho người đọc, người xem mơ hồ, hoài nghi, suy giảm niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Chúng mưu toan dùng vấn đề môi trường để tạo thành các điểm nóng thu hút sự quan tâm của dư luận, kêu gọi quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đặc biệt, gần đây khi Việt Nam bắt giữ, điều tra, khởi tố một số đối tượng về tội “Trốn thuế”, chúng đã đăng tải nhiều bài viết, video, clip vu cáo, xuyên tạc cho rằng, Nhà nước Việt Nam “đàn áp các nhà hoạt động môi trường”…
Có thể nói môi trường là lĩnh vực nhạy cảm, vì thế các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên dùng mọi chiêu trò lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc chống phá Việt Nam. Nhưng dù có sử dụng luận điệu, chiêu trò gì, tinh vi đến đâu đi chăng nữa chúng cũng không thể phủ nhận được sự thật. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đặt vấn đề bảo vệ môi trường lên hàng đầu, lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe của nhân dân làm mục tiêu trong chiến lược phát triển đất nước. Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực bảo vệ môi trường. Thực tế chứng minh công tác bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam những năm qua đã thu được nhiều kết quả tích cực. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định mối quan hệ lớn: “Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2021 – 2026), Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Phát triển nhanh và bền vững…; phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu”. Từ năm 1991, Chính phủ Việt Nam đã thông qua “Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững”. Từ đó đến nay quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững được lồng ghép xuyên suốt trong các chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm, tiên quyết cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững”. Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam và các cơ quan chức năng đã ban hành, thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch, đề án trọng điểm, quy định, chính sách liên quan đến bảo vệ môi trường. Trong từng giai đoạn, bằng nhiều chủ trương, chính sách Đảng và Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích, động viên mọi tổ chức, cá nhân chung ta bảo vệ môi trường. Hoạt động quản lý và đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường được chú trọng. Ngân sách chi cho công tác bảo vệ môi trường ngày càng tăng. Các chương trình đầu tư, cải tạo hệ thống thoát nước và công trình xử lý nước thải sinh hoạt được tích cực triển khai. Các cơ quan, lực lượng chức năng về bảo vệ môi trường thường xuyên phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát kịp thời phát hiện, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường đã bị đình chỉ hoạt động, các vấn đề về môi trường bức xúc đã được quan tâm xử lý. Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất, kinh doanh đã được các doanh nghiệp quan tâm. Những cá nhân, tổ chức có cống hiến, lập thành tích về bảo vệ môi trường được Nhà nước tôn vinh, bảo vệ. Những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tùy vào tính chất, mức độ đều bị xử lý nghiêm minh. Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm đúng mức… Cần khẳng định rằng ở Việt Nam hoàn toàn không có chuyện “đàn áp các nhà hoạt động môi trường” nhưng luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động từng rêu rao. Thực tế đã chứng minh trên lĩnh vực bảo vệ môi trường, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, toàn diện từ công tác quản lý và chỉ đạo, kiểm soát ô nhiễm đến việc nâng cao nhận thức của nhân dân và đầu tư phát triển… Những kết quả đó được nhân dân Việt Nam ghi nhận và cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam vẫn còn những khó khăn, thách thức và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nỗ lực để bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững. Thế nhưng không phải vì thế mà Việt Nam lờ đi để cho những kẻ mang mưu hèn, kế bẩn xuyên tạc sự thật, phủ nhận sạch trơn những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu, chiêu trò bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực bảo vệ môi trường là điều mà từng cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam không bao giờ lơ là, lãng quên./.

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2025

Một vỏ bọc “nhân quyền” – bốn tổ chức quốc tế “đồng thanh”!

Mượn cớ Tổng thống Pháp Emmanuel Macron thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 25 đến 27/5/2025, bốn tổ chức quốc tế gồm: Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH), Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam (VCHR), Liên đới Thiên Chúa giáo Toàn Cầu (CSW) và Nhân chứng Toàn cầu (Global Witness) cùng núp bóng “nhân quyền” để tung ra bản “thông cáo báo chí”, trắng trợn kêu gọi Tổng thống Pháp gây sức ép yêu cầu Việt Nam “tôn trọng nhân quyền”. Đây không chỉ là một hành động thiếu suy xét về mặt ngoại giao, mà còn là biểu hiện rõ rệt của sự can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền, có độc lập, tự do đích thực. Điều này hoàn toàn đi ngược với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, vi phạm nghiêm trọng chuẩn mực ngoại giao.

Hành động của các tổ chức nêu trên là một ví dụ điển hình nhất về chủ nghĩa can thiệp trá hình dưới chiêu bài “bảo vệ nhân quyền”. Thật khó tin, khi chỉ bằng vài lời kêu gọi và những cáo buộc phiến diện, họ lại ảo tưởng rằng một nguyên thủ quốc gia như Tổng thống Pháp có thể ngang nhiên can thiệp vào hệ thống pháp luật và tư pháp của một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam.

Trong quan hệ quốc tế hiện đại, việc một nguyên thủ yêu cầu nước chủ nhà trả tự do cho công dân vi phạm pháp luật hoặc yêu cầu thay đổi luật an ninh quốc gia trong khuôn khổ một chuyến thăm cấp cao là điều cực kỳ hiếm hoi và không phù hợp với nghi thức ngoại giao. Những người đưa ra “đề xuất” này hoặc đã quá ấu trĩ về quan hệ quốc tế, hoặc cố tình dựng lên một màn kịch nhằm mục tiêu truyền thông, làm nhiễu loạn dư luận và phá hoại mối quan hệ song phương đang phát triển tốt đẹp giữa hai quốc gia.

Chuyến thăm Việt Nam lần này của Tổng thống Macron là sự kiện có ý nghĩa chiến lược trong việc củng cố và thúc đẩy quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Pháp, gắn liền với các thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, giáo dục, quốc phòng và chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà Pháp đang triển khai. Việc lồng ghép một yêu sách phi lý vào dịp này không chỉ thể hiện sự kém tôn trọng đối với nguyên thủ Pháp mà còn mang tính chất phá hoại, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới bầu không khí hữu nghị và thiện chí giữa hai bên.

Cái gọi là “nhân quyền” thực chất là sự bảo kê cho hành vi vi phạm pháp luật. Trong “thông cáo” ngày 22/5, các tổ chức này không ngần ngại gọi những người đã bị kết án về các tội danh tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia như Phạm Đoan Trang, Đặng Đình Bách, Phạm Chí Dũng là “tù nhân lương tâm”, “nhà báo độc lập”, hay “nhà hoạt động môi trường”. Đây là sự ngụy biện trắng trợn. Những cá nhân này không bị bắt vì bày tỏ chính kiến ôn hòa, mà là do hành vi vi phạm pháp luật, có bằng chứng rõ ràng được xét xử công khai, đúng quy trình tố tụng theo pháp luật Việt Nam. Không một quốc gia nào trên thế giới, kể cả các nước phương Tây, lại dễ dãi với những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để kích động thù hận, lật đổ chính quyền, hay chống phá nhà nước.

Không có thứ “nhân quyền” nào cho phép con người vi phạm pháp luật mà không bị trừng trị. Mỗi quốc gia có quyền xây dựng và bảo vệ hệ thống luật pháp của riêng mình để đảm bảo trật tự, an ninh và sự ổn định xã hội. Việt Nam không loại trừ ai khỏi hệ thống pháp lý, nhưng cũng không dung túng bất kỳ hành vi vi phạm nào dưới bất kỳ vỏ bọc nào, kể cả là “hoạt động xã hội dân sự”, “bảo vệ môi trường” hay “nhà báo tự do”.

Việc các tổ chức quốc tế ngang nhiên đòi hỏi Việt Nam xóa bỏ các điều khoản “an ninh quốc gia” trong Bộ luật Hình sự, bãi bỏ Nghị định 126 và 147 là sự xúc phạm không thể chấp nhận với một quốc gia độc lập. Những văn bản pháp luật này không hề mơ hồ hay mâu thuẫn với chuẩn mực quốc tế, mà ngược lại, là công cụ cần thiết để Việt Nam bảo vệ quyền lợi của công dân và chủ quyền đất nước trước các mối đe dọa ngày càng tinh vi trong không gian mạng, hoạt động của các hội nhóm trá hình và sự xâm nhập từ các thế lực bên ngoài.

Nghị định 126 điều chỉnh hoạt động của các hội, đảm bảo chúng hoạt động minh bạch, không bị lợi dụng để tuyên truyền, vận động chính trị trái phép. Nghị định 147 về quản lý thông tin trên không gian mạng là phản ứng cần thiết trước các hình thức lừa đảo, vu khống, xúc phạm danh dự cá nhân và phá hoại an ninh quốc gia trên Internet – một vấn đề mà cả thế giới đang đối mặt. Nhiều quốc gia phương Tây cũng đã và đang thực thi các đạo luật tương tự, thậm chí chặt chẽ và nghiêm ngặt hơn nhiều. Vậy thì cớ gì Việt Nam không được phép bảo vệ chính mình?



Nhân quyền phải được nhìn trong bối cảnh, không thể “định chuẩn” theo ý riêng

Việt Nam là quốc gia thành viên của nhiều công ước quốc tế về quyền con người và luôn tôn trọng, bảo vệ các quyền đó trong khuôn khổ luật pháp. Nhân quyền không thể bị tách rời khỏi nghĩa vụ công dân và càng không thể bị chính trị hóa để phục vụ cho mưu đồ can thiệp từ bên ngoài. Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào lợi dụng nhân quyền để phá hoại trật tự xã hội, kích động chống phá đều không thể được dung thứ.

Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực quyền con người: tỷ lệ xóa đói giảm nghèo thuộc hàng nhanh nhất thế giới, hệ thống y tế và giáo dục ngày càng được cải thiện, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng được đảm bảo. Những thành tựu này không thể bị lu mờ bởi các luận điệu bóp méo từ những tổ chức vốn mang tư tưởng thù địch, phục vụ cho chiến lược “diễn biến hòa bình” lâu nay. Không ai có quyền can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam. Hành động của FIDH, VCHR, CSW và Global Witness là biểu hiện rõ ràng của sự can thiệp vào công việc nội bộ, đi ngược lại Hiến chương Liên Hợp Quốc và các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế. Đây là vở kịch chính trị vụng về, không đánh lừa được ai, càng không thể lay chuyển lập trường vững chắc của Việt Nam về chủ quyền, pháp luật và nhân quyền.

Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, núi có thể cạn, sông có thể mòn, nhưng chân lý ấy không hề thay đổi. Lịch sử Việt Nam có hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, từng phải đường đầu và cuối cùng đều đánh thắng những kẻ ngoại xâm lớn mạnh nhất thế giới. Việt Nam tự quyết, giữ vững các quyền dân tộc cơ bản, tôn trọng và bảo đảm quyền bình đẳng, quyền con người và quyền công dân trong điều kiện cho phép. Việt Nam luôn sẵn sàng đối thoại về nhân quyền trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau và bình đẳng, nhưng kiên quyết bác bỏ mọi hành động lợi dụng nhân quyền để áp đặt, gây sức ép hay can thiệp vào công việc nội bộ.

Bởi vậy, các tổ chức quốc tế cần hiểu rằng: tôn trọng một quốc gia Việt Nam có chủ quyền chính là tiền đề để xây dựng một thế giới công bằng, văn minh và hòa bình thật sự. Mọi sự can thiệp phi lý vào công việc nội bộ đều gây ra hậu quả xấu hơn và sớm muộn đều bị lên án, chỉ trích.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2025

Vũ Đức Khanh không hiểu gì về giá trị hạnh phúc

  Mới đây, trên trang “Bureau CTM Media - Âu Châu”, Vũ Đức Khanh lại tiếp tục đăng bài: “Độc lập nhưng tự do, hạnh phúc ở đâu”, trong đó có giật tít: “Sau ngần ấy năm độc lập, dân tộc có thật sự được tự do và hạnh phúc?…”. Những thông tin sai lệch của Khanh trong bài viết đã thể hiện sự không hiểu biết của y về giá trị của hạnh phúc.

1. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định. “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc chính là mục tiêu, “đích đến” của Đảng, Nhà nước ta. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “lấy dân là gốc”; Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Phấn đấu vì nhân dân, “lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu” không chỉ có ở Việt Nam mà còn là những giá trị bất biến mà nhân loại tiến bộ trên thế giới phấn đấu để đạt được.

2. Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Đất nước ta từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện căn bản, toàn diện, vị thế, uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Theo Báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2025 do Trung tâm Nghiên cứu Hạnh phúc của Đại học Oxford (Anh) công bố ngày 20/3/2025, Việt Nam xếp thứ 46 trong số 143 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng, tăng 8 bậc so với năm 2023. Việt Nam nằm trong số các nước có xếp hạng chỉ số hạnh phúc liên tục tăng nhanh trong 3 năm trở lại đây.

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, luận điệu xuyên tạc, phản động của Vũ Đức Khanh về hạnh phúc ở Việt Nam là hoàn toàn sai trái, bịa đặt, không đúng sự thật. Chứng tỏ Vũ Đức Khanh là kẻ không hiểu gì về giá trị hạnh phúc, về đất nước Việt Nam đang từng ngày phát triển bền vững, hùng cường và thịnh vượng. Dù rằng xã hội Việt Nam hiện nay còn không ít vấn đề cần giải quyết như: phân hóa giàu nghèo; tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được ngăn chặn triệt để; dịch vụ chăm sóc y tế vẫn ở mức cao; ô nhiễm môi trường còn xảy ra ở một số nơi, v.v. Nhưng với những kết quả đã đạt được trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không chỉ góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp “vì hạnh phúc của Nhân dân” mà còn tạo ra một lực lượng xã hội hùng hậu có sức mạnh tương ứng, tự giác bảo vệ cho chế độ xã hội; bảo vệ Nhân dân khỏi những toan tính của những lực lượng phản động muốn phá hoại Nhà nước xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đó cũng là cơ sở niềm tin để khơi dậy khát vọng của Nhân dân ta về một xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc, một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài vì mục tiêu tối thượng là vì hạnh phúc của Nhân dân./.

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2025

BPSOS lạm dụng danh nghĩa quốc tế để xuyên tạc thực tế Tây Nguyên

Trong loạt bài “Tây Nguyên: Nước mắt và máu” đăng trên trang machsongmedia.org, Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) viện dẫn các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc để gia tăng độ tin cậy cho những cáo buộc về tình hình Tây Nguyên. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không phải là nỗ lực phản ánh sự thật mà là chiêu trò nhằm đánh bóng uy tín, đồng thời bóp méo thông tin để phục vụ mục đích tuyên truyền chống phá. Thực tế, việc sử dụng danh nghĩa quốc tế của BPSOS mang tính chọn lọc, cố tình bỏ qua các đánh giá tích cực, từ đó tạo ra một bức tranh sai lệch về chính sách và đời sống tại Tây Nguyên.

Xuyên suốt 9 bài viết, BPSOS liên tục trích dẫn các khái niệm và báo cáo quốc tế để củng cố luận điệu của mình. Chẳng hạn, trong bài “Phần 7: Quyền Bản Địa Bị Phủ Nhận”, tác giả sử dụng cụm từ “Montagnard Indigenous Peoples” - được một số tài liệu Liên hợp quốc đề cập - để cáo buộc Việt Nam không công nhận quyền bản địa của người Thượng, thậm chí đàn áp các phong trào đòi hỏi quyền này. Tương tự, bài “Phần 3: Tôn Giáo Dưới Áp Lực” viện dẫn các báo cáo quốc tế về tự do tôn giáo để khẳng định rằng chính quyền Việt Nam hạn chế nghiêm trọng hoạt động tín ngưỡng tại Tây Nguyên. Những trích dẫn này được trình bày như bằng chứng không thể chối cãi, nhưng thực chất chỉ là sản phẩm của việc chọn lọc thông tin một chiều. BPSOS không hề nhắc đến các đánh giá tích cực từ chính các tổ chức quốc tế mà họ viện dẫn, qua đó phơi bày ý đồ xuyên tạc và thủ đoạn lợi dụng danh nghĩa để đánh lừa dư luận.

Thực tế, các báo cáo từ Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác cho thấy một góc nhìn hoàn toàn khác về Tây Nguyên. Trong hơn một thập kỷ qua, khu vực này được ghi nhận với những bước tiến đáng kể về giảm nghèo và phát triển kinh tế – xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo tại Tây Nguyên giảm từ 23,1% năm 2010 xuống còn 5,7% năm 2020, một thành tựu được đánh giá cao trong bối cảnh địa lý và điều kiện tự nhiên đầy thách thức. Tại tỉnh Đắk Nông, hơn 80% hộ dân tộc thiểu số đã tiếp cận được điện lưới và nước sạch nhờ các dự án đầu tư quốc gia, một nỗ lực được các báo cáo quốc tế ghi nhận như minh chứng cho sự quan tâm đến vùng sâu, vùng xa. Những dữ liệu này không phải là bí mật mà được công bố rộng rãi, nhưng BPSOS cố tình né tránh để duy trì hình ảnh Tây Nguyên như một khu vực bị bỏ rơi và áp bức.

Hơn nữa, BPSOS còn bóp méo khái niệm quốc tế để áp đặt lên bối cảnh Việt Nam mà không xem xét sự khác biệt về pháp lý và lịch sử. Việc sử dụng thuật ngữ “quyền bản địa” trong bài viết là một ví dụ điển hình. Tại Việt Nam, 54 dân tộc được công nhận bình đẳng theo Hiến pháp, không phân biệt “bản địa” hay “không bản địa” như cách hiểu của một số nước phương Tây. Chính sách này nhằm tránh phân biệt đối xử và xây dựng khối đoàn kết chung, khác với mô hình mà BPSOS cố gắng áp đặt. Thực tế, hơn 1.000 tỉ đồng đã được đầu tư vào các chương trình phát triển vùng dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên trong giai đoạn 2016-2020, bao gồm hỗ trợ đất sản xuất và nhà ở cho người M’Nông tại Đắk Nông. Những nỗ lực này được quốc tế đánh giá là bước đi tích cực, nhưng không một dòng nào xuất hiện trong loạt bài của BPSOS.

Một chiêu trò khác là việc BPSOS trích dẫn báo cáo quốc tế về tự do tôn giáo để vu cáo chính quyền đàn áp tín ngưỡng. Thực tế, hơn 1.200 tổ chức tôn giáo đang hoạt động hợp pháp tại Tây Nguyên, với hàng trăm nghìn tín đồ, chủ yếu là người dân tộc thiểu số. Tại tỉnh Kon Tum, hơn 300 nhà thờ Tin Lành được xây dựng và cấp phép trong 10 năm qua, phục vụ cộng đồng người Ba Na và Xơ Đăng. Những con số này cho thấy quyền tự do tín ngưỡng được bảo đảm, trái ngược với cáo buộc “hạn chế nghiêm trọng” của BPSOS. Nếu tham khảo các báo cáo quốc tế đầy đủ, có thể thấy Việt Nam được ghi nhận đã cải thiện đáng kể môi trường tôn giáo, nhưng BPSOS chỉ chọn những đoạn tiêu cực để đánh lạc hướng.

Thêm vào đó, BPSOS còn cố tình bỏ qua các đánh giá tích cực về văn hóa và giáo dục tại Tây Nguyên. Lễ hội Cồng Chiêng, một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được tổ chức thường xuyên với sự hỗ trợ lớn từ chính quyền, thu hút hàng nghìn người Thượng tham gia mỗi năm. Tại huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, hơn 20 lớp học song ngữ Êđê - Việt đã được mở để bảo tồn ngôn ngữ dân tộc, với giáo viên là người bản địa. Những thành tựu này không chỉ được người dân địa phương ghi nhận mà còn nhận được sự đánh giá cao từ các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, BPSOS không hề đề cập, mà chỉ tập trung vào những câu chuyện bịa đặt như “đàn áp văn hóa” để tạo ấn tượng sai lệch.

Cách BPSOS lợi dụng danh nghĩa quốc tế còn thể hiện qua việc phóng đại các vấn đề nhỏ lẻ thành khủng hoảng lớn. Trong bài “Phần 8: Cái Chết Bí Ẩn”, tác giả kể về một trường hợp tự tử và ngụ ý rằng chính quyền gây áp lực, nhưng không có tài liệu quốc tế nào xác nhận sự việc này liên quan đến chính sách đàn áp. Thực tế, các báo cáo quốc tế gần đây ghi nhận Tây Nguyên đã giảm đáng kể tỷ lệ tử thi liên quan đến nghèo đói hay xung đột, nhờ cải thiện y tế và kinh tế. Tại huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, hơn 10 trạm y tế mới được xây dựng trong 5 năm qua, phục vụ miễn phí cho người Thượng. Những dữ liệu này bị BPSOS cố tình làm ngơ để phục vụ luận điệu tuyên truyền.

Hành vi lạm dụng danh nghĩa quốc tế của BPSOS không chỉ là thủ đoạn xuyên tạc mà còn làm suy giảm giá trị của các báo cáo khách quan. Thay vì phản ánh toàn diện, họ chọn lọc thông tin tiêu cực, bỏ qua những tiến bộ được chính các tổ chức như Liên hợp quốc ghi nhận. Sự thật về Tây Nguyên là vùng đất đang phát triển với những chính sách thiết thực, mang lại lợi ích cho người dân bất kể dân tộc. Những con số về giảm nghèo, tôn giáo, và văn hóa là minh chứng rõ ràng, không thể bị bóp méo bởi các chiêu trò bịa đặt. BPSOS có thể tiếp tục viện dẫn quốc tế, nhưng sự thật vẫn là điều họ không thể phủ nhận./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)