Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023

Sự cần thiết phải tách Luật Giao thông đường bộ thành hai luật: Luật Đường bộ và Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ



1.1. Về cơ sở chính trị, pháp lý

-Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, phê duyệt Đềán số 292-ĐA/ĐĐQH15  ngày  20/10/2021  của  Đảng đoàn  Quốc hội khóa  XV  về  Định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV (2021 -2026), trong đó đề ra nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng dự án Luật điều chỉnh nội dung về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ để xem xét bổ sung vào Chương trình năm 2022-2023.

-Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư về tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông đề ra yêu cầu: Tiến hành rà soát, sửa đổi, bổsung để hoàn thiện hệ thống pháp luật về trật tự, an toàn giao thông phù hợp với tình hình mới.

-Kết luận số 45-KL/TW ngày 01/02/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 trong đóxác định: Công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông là một nội dung của công tác bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,do tính chất phức tạp của tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, ảnh hưởng lớn an ninh con người, an ninh xã hội.

-Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, trong đó đề ra một trong những giải pháp chủ yếu là: Sửa đổi, bổsung các luật có liên quan để tạo thuận lợi cho phát triển hạ tầng.-Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân; đồng thời tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là việc thực thi tinh thần “thượng tôn pháp luật”; xây dựnghệ thống pháp luật, thể chế pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, với tư duy mới, phù hợp với thực tiễn; bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn; kiềm chếgia tăng tai nạn giaothông nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tạo chuyển biến rõ nét về trật tự, an toàn xãhội; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, trong đó có hệ thống đường bộ; hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển hạ tầng.

-Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền sống; tính mạng con người được pháp luật bảo hộ (Điều 19); mọi người được pháp luật bảo hộvềsức khoẻ (Điều 20); Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội (Điều 67).

Như vậy, việc hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, là sự cụ thể hóa Hiến pháp để giải quyết những vẩn để thực tiễn về trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong tình hình mới.

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Bổ sung những thiếu hụt về chính sách an toàn toàn giao thông

Tình hình trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong những năm qua tuy đã có những chuyển biển nhưng chưa thực sự căn bản, vững chắc, còn nhiều diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông vẫn ởmức cao và nghiêm trọng, nhất là số người chết, luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất an toàn cho người, phương tiện khi tham gia giao thông. Theo thống kê, từ năm 2009 đến tháng 01/2023, toàn quốc đã xảy ra hơn 379 nghìn vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết hơn 124 nghìn người, bị thương hơn 367 nghìn người, chiếm hơn 97% sốvụ, sốngười chết, người bị thương trong tổng số vụ tai nạn của các loại hình giao thông,gây thiệt hại rất lớn về tài sản.

Trung bình hàng năm có gần 9 nghìn người chết, gần 30 nghìn người bị thương, trong đó chủ yếu trong độ tuổi lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế-xã hội. Đáng chú ý nguyên nhân gây tai nạn giao thông do lỗi của người tham gia giao thông chiếm trên 90% sốvụ.

Tình trạngngang nhiên vi phạm, coi thường pháp luật khi tham gia giao thông vẫn diễn ra phổ biến, văn hóa giao thông còn nhiều yếu kém. Lực lượng chức năng đã xử lý gần 66 triệu trường hợp vi phạm, trong đó một số hành vi vi phạm có nguy cơ cao dẫn đến tai nạn giaothông như vi phạm nồng độ cồn hơn 1,39 triệu trường hợp, sử dụng chất ma túy hơn 6 nghìn trường hợp...; xảy ra 622 vụ chống lại lực lượng làm công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, làm 07 cán bộ hy sinh, 196 cán bộ bị thương. Các loại tội phạm hoạtđộng trên các tuyến giao thông đường bộ diễn biến phức tạp. Các vấn đề về an ninh như biểu tình trái pháp luật, tụ tập đông người trên đường bộ ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Ùn tắc giao thông phức tạp tại các thành phố lớn do lưu lượng phương tiện tăng đột biến, trong khi quy hoạch giao thông, tổ chức giao thông, hạ tầng giao thông chưa đáp ứng yêu cầu, gây tắc nghẽn trên diện rộng tại các đô thị lớn và trên các tuyến cao tốc, quốc lộ trọng điểm, gây ra những thiệt hạikhông nhỏ vềkinh tế, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống của nhân dân, tác động không tốt đến môi trường du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài và hình ảnh của Việt Nam đối với bạn bè quốc tế. Tình hình nêu trên cho thấy, an ninh con người trong lĩnh vực giao  thông đường bộ chưa được bảo đảm.

Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do Luật Giao thông đường bộ năm 2008 được xây dựng và ban hành trên cơ sở sửa đổi Luật Giao thông đường bộ năm 2001, trong bối cảnh hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ còn hạn chế, phương tiện chủ yếu là mô tô, xe gắn máy. Theo đó, một sốquy định tuy đã được điều chỉnh trong Luật Giao thông đường bộ năm 2008 nhưng vẫn còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa sát với thực tiễn đểtổchức thực hiện, như:-Quy tắc giao thông chủ yếulà nội luật hóa Công ước Viên năm 1968 về Giao thông đường bộ nhưng việc cụ thể hóa các quy định của Công ước này trong Luật Giao thông đường bộ năm 2008 chưa rõ, chưa đầy đủ và sát thực tiễn tình hình giao thông tại Việt Nam.

-Không quy định đầy đủ, cụ thể về các chế định bảo đảm trật tự, an toàn giao thông liên quan, như: Giải quyết tai nạn giao thông; tổchức, chỉhuy, điều khiển giao thông, giải quyết ùn tắc giao thông, giải quyết các vấn đề an ninh trật tự, sự kiện trên các tuyến giaothông...

-Phương tiện giao thông tăng nhanh, chủ yếu là các phương tiện cá nhân, toàn quốc đã đăng ký quản lý 5.897.657 xe ô tô (gấp hơn 6,9 lần so với từ năm 2008 trở về trước), 72.437.859 xe mô tô, xe gắn máy (gấp 2,9 lần so với từ năm 2008 trở về trước); trong khi Luật Giao thông đường bộ năm 2008 chưa có các chính sách, biện pháp, quy định cụ thểvề phát triển phương tiện đểđảm bảo đồng bộ với sự phát triển của cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam. Quy định về nâng cao chất lượng an toànkỹthuật phương tiện giao thông và bảo vệ môi trường chưa đáp ứng tình hình mới.

1.2.2.Bổ sung những thiếu hụt về chính sách đầu tư, xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII chỉ ra tồn tại, hạn chế là phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại chưa đạt yêu cầu, chưa cân đối giữa các vùng, miền. Một sốdự án hạ tầng giao thông còn chậm tiến độ. Tính kết nối trong phát triển hạ tầng, đặc biệt là giao thông thiếu đồng bộ, hệ thống đường cao tốc còn hạn chế. Nhiều tuyến đường nhất là ở các vùng nông thôn, vùng sâu có quy mô kỹthuật thấp chưa được cải tạo nâng cấp, mở rộng, chưa đáp ứng nhu cầu vận tải và tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông.

Hệ thống đường địa phương những năm qua đã có bước phát triển, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế; giao thông tại các đô thị lớn còn thường xuyên ùn tắc, trong đó có một phần là hạ tầng chưa đầy đủ, đồng bộ.Theo quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2008, tỷ lệ quỹ đất giao thông đô thị so với đất xây dựng đô thị phải bảo đảm từ 16% -20%, tuy nhiên, tỷ lệ quỹđất giao thông đô thị hiện nay còn thấp hơn so với quy định, như tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn khác, con sốnày mới chỉ đạt từ 5 -12% tùy theo từng khu vực, tỷ lệ quỹ đất dành cho giao thông tĩnh cũng rất thấp, mới chỉ đạt được dưới 1%.

Các quy định liên quan đến đường cao tốc hiện nay mới được quy định tại một điều (Điều 26) về quy tắc giao thông trên đường cao tốc trong Luật Giao thông đường bộ năm 2008, các vấn đề liên quan đến quản lý, khai thác, bảo trì đường cao tốc đang được quy định tại văn bản dưới luật.Có thể thấy Luật Giao thông đường bộ năm 2008 tuy đã có quy định về chính sách về quy hoạch đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, vận hành bảo trì, quản lý vận tải đường bộ nhưng chưa đầy đủ và cụ thể, như cơ chế thu hút nguồn lực đầu tư, cơ chế về vốn, về bảo trì, bảo dưỡng kết cấu hạ tầng...

Thực tế cho thấy khi đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng thực hiện các dự án đầu tư hạ tầng giao thông đường bộ gặp nhiều khó khăn về cơ sở pháp lý.

1.2.3.Bổ sung những thiếu hụt về chính sách vận tải đường bộ

Vận tải đường bộ hiện phải đảm nhận tỷ trọng lớn (chiếm khoảng hơn 70% vận tải hành khách và hàng hóa trong tổng số các loại hình vận tải), không cân đối với các phương thức vận tải khác; chất lượng dịch vụ đã được nâng cao nhưng chưa đồng đều, còn có các đơn vị vận tải nhỏ lẻ, manh mún; hiệu quả kinh doanh chưa cao; công tác quản lý lái xe còn bất cập; thiếu cơ sở dữ liệu quản lý chặt chẽ người lái xe kinh doanh vận tải.

Các loại hình kinh doanh vận tải chưa được phân định rõ ràng, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, quy định về điều kiện kinh doanh trong đó có các thiết bị quan trọng như giám sát hành trình, camera hành trình chưa rõ ràng dẫn đến hiệu quả quản lý hạn chế. Kinh doanh vận tải là kinh doanh có điều kiện nhưng Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định chưa rõ, chưa đủ cơ chế, chính sách để phát triển tương xứng với nhu câu xã hội.

1.2.4.Khắc phục những hạn chế, bất cập về kết cấu và về phân công trách nhiệm quản lý nhà nước trong Luật Giao thông đường bộ năm 2008

-Trước năm 2001, các quy định về trật tự, an toàn giao thông; đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông và vận tải đường bộ là 3 lĩnh vực khác nhau được điều chỉnh riêng biệt ở các văn bản dưới luật. Năm 2001, Quốc hội thông qua Luật Giao thông đường bộ và năm 2008 thông qua Luật thay thế, tiếp tục điều chỉnh đồng thời 3 lĩnh vực khác nhau là: (1) An toàn giao thông; (2) Kết cấu hạ tầng giao thông; (3) Vận tải đường bộ.

Thực tiễn cho thấy an toàn giao thông, kết cấu hạ tầng giao thông và vận tải đường bộ là 3 lĩnh vực rất lớn, mục tiêu, đối tượng điều chỉnh khác nhau, nhưng lại được điều chỉnh trong cùng một luậtdẫn đến không thể quy định đầy đủ, cụ thể, rõ ràng nhiều nội dung quan trọng thuộc từnglĩnh vực, phải ban hành rất nhiều văn bản dưới luật đểhướng dẫn thực hiện.

Trong đó, an toàn giao thông thuộc lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội; xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và vận tải đường bộ thuộc lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, liên quan đến đầu tư, quản lý tài sản công và tuân theo quy luật thị trường.Theo đó, các quy phạm pháp luật, điều khoản, chương, mục của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 hoặc chỉ phù hợp áp dụng cho lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ hoặc chỉ phù hợpáp dụng cho lĩnh vực xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, vận tải đường bộ và đa số các điều khoản, chương, mục của Luật chỉ có thể áp dụng cho một lĩnh vực, không thể đồng thời áp dụng được cho cả 3 lĩnh vực.

-Về nguyên tắc việc phân công, phân cấp giữa các bộ, ngành, địa phưomg trong quản lý nhà nước phải rõ, cụ thể, xác định cơ quan chịu trách nhiệm chính về lĩnh vực được giao mới có thểgóp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, Luật Giao thông đường bộ năm2008 không quy định rõ cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm chính  vềtrật tự, an toàn giao thông đường bộ, dẫn đến quá trình thực hiện thiếu nhất quán, đồng bộ, nhất là giữa cơ quan quản lý nhà nước về an ninh, trật tự và cơ quan quản lý nhà nước vềhạ tầng,kinh tế, kỹ thuật.Trong khi đó, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đã xác định: Một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính.

1.2.5. Phù hợp với xu thế lập pháp và kinh nghiệm quốc tế

-Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay xu hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay theo hướng chuyên sâu, điều chỉnh một lĩnh vực cụ thểđểbảo đảm sự phân công rõ ràng chức năng, nhiệm vụ trong quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật.

-Trong quá trình xây dựng dự án Luật, cơ quan soạn thảo đã trao đổi kinh nghiệm và nghiên cứu, tham khảo pháp luật của nhiều quốc gia, cho thấy nhiều quốc gia xây dựng luật về an toàn giao thông (trật tự, an toàn giao thông), luật về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, nhiều quốc gia xây dựng luật riêng về xây dựng, vận hành đường bộ cao tốc, luật riêng về vận tải đường bộ gắn với dịch vụ logistic.

Công ước Viên mà Việt Nam tham gia cũng chỉ điều chỉnh về an toàn giao thông.Chính phủ cũng nghiên cứu ý kiến việc xây dựng luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ thì có xây dựng luật về các lĩnh vực đường thuỷ, đường sắt, đường không và đường hàng hải hay không và thấy rằng tai nạn giao thông đường bộ phức tạp nhất, chiếm 97% các vụ so với các loại hình giao thông khác, tính chất điều khiển an toàn tham gia giao thông, mật độ giao thông khác nhau và liên quan trực tiếp, hàng ngày với từng người dân nên ưu tiên nghiên cứu xây dựng luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ trước.

Chính phủ cũng nghiên cứu 5 trụ cột về an toàn giao thông của Liên hợp quốc gồm: (1) Quản lý an toàn giao thông; (2) Đường an toàn và lưu thông an toàn; (3) Phương tiện giao thông an toàn; (4) Người tham gia giao thông an toàn; (5) Ứng phó sau tai nạn và thấy rằng 5 trụ cột là một thể thống nhất trong xây dựng hệ thống pháp luật, không phải trong cùng một luật mới là thể thống nhất.Từ những lý do trên cho thấy, nếu tiếp tục kết cấu trong một luật như hiện nay thì không giải quyết được tận gốc các tồn tại nêu trên, sẽ có quá nhiều điều luật, khó quy định đầy đủ, rõ ràng, cụ thểcác chính sách, không phù hợp vềphạm vi, đối tượng điều chỉnh và tên của luật.

Như vậy, ban hành Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ với mục tiêu xây dựng thói quen, ý thức tự giác và hình thành văn hóa giao thông hiện đại, đềcao bảo vệ tính mạng, tài sản, quyền con người khi tham gia giao thông; ban hành Luật Đường bộ với mục tiêu phát triển hạ tầng giao thông, quản lý vận tải, thích ứng với sự thay đổi, phát triển nhanh của kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật, hướng tới phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, vận tải hiện đại, đồng bộ, chất lượng. Việc xây dựng và ban hành hai Luật là đòi hỏi tất  yếu,  khách  quan, cấp bách của thực tiễn, phù hợp với quy luật phát triển, phù hợp với xu hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn đểthúc đẩy,  nâng tầm cả hai lĩnh vực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới./.

 

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

SỰ CẦN THIẾT CỦA THIẾT CHẾ RIÊNG ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG AN NINH TRẬT TỰ Ở CƠ SỞ

Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở đã được Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV. Trên cơ stổng hợp ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo nghiên cứu, đánh giá toàn diện, tổng thể thực trạng, tác động của dự án Luật, tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội, chỉnh lý hồ sơ dự án Luật và xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, ý kiến các cơ quan của Đảng, Quốc hội, bộ, ngành, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức hội thảo khoa học, tọa đàm nhiều cấp với sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học, đối tượng chịu sự tác động... Đen nay, hồ sơ dự án Luật đã được chỉnh lý, hoàn thiện trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu, giải trình các ý kiến tham gia

1.Mục đích xây dựng Luật-Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về kiện toàn, sắp xếp, tinh gọn đầu mối bên trong gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của từng tổ chức cơ sở; giảm chi ngân sách nhà nước; cụ thể hóa và tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm thi hành quy định của Hiến pháp năm2013 về quyền con người, quyền công dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an

toàn xã hội trong tình hình mới.-Xây dựng, củng cố phong trào toàn dân bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở do Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, các lực lượng chức năng, trong đó Công an nhân dân làm nòng cốt thực hiện.-Pháp điển hóa văn bản quy phạm pháp luật về các lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở để quy định trong văn bản luật, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.-Tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, tương xứng hơn trong xây dựng, hoạt động, quản lý, sử dụng các lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về an ninh, trật tự tại địa bàn cơ sở.2. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật-Tuân thủ Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; bảo đảm các quy định của Luật được cụ thể và có tính khả thi.-Tổng kết đầy đủ, toàn diện thực tiễn hoạt động của các lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.-Bám sát quan điểm, chủ trương của Đảng về sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn đầu mối bên trong của từng tổ chức cơ sở, giảm chingân sách nhà nước.-Tham khảo có chọn lọc pháp luật của một số nước về tổ chức, hoạt động của lực lượng tham gia bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn cơ sở để vận dụng quy định cho phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam.

 

MỘT SÓ NỘI DUNG LỚN CỦA DỰTHẢO LUẬT

 

Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ởcơ sở bảnchất là điều chỉnh, kiện toàn lại các lực lượng, chức danh đã được thành lập, hoạt động từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 và hiện nay đang hoạt động ở địa bàn cơ sởđể kiện toàn thống nhất thành một lực lượng chung (các lực lượng, chức danh đang hoạtđộng hiện nay sẽ được kiện toàn thống nhất, quy định trong Luật, bao gồm  Công  an    bán chuyên trách đang được tiếp tục sử dụng hiện nay theo quy định của Luật Công an nhân dân năm 2018, Bảo vệ dân phố và các chức danh đội trưởng, đội phó đội dân

phòng). Bộ Công an đã nghiên cứu, kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đánh giá là phù hợp, còn giá trị để quy định đổi với lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở bảo đảm không làm tăng biên chế, không làm tăng chi ngân sách nhà nước, không chồng chéo, không mâu thuẫn với các văn bản luật khác. Theo đó, về nội dung cơ bản của dự thảo Luật quy định như sau:1.  Vềphạm vi điều chỉnh, dự thảo Luật quy định về: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác, xây dựng lực lượng, bảo đảm điều kiện hoạt động và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở.

2. Về vị trí, chức năng của lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ởcơ sở:Dự thảo Luật quy định lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở là lực lượng quần chúng tự nguyện được tuyển chọn tham gia vào tổ bảo vệ an ninh, trật tự; làm nòng cốt trong xây dựng mô hình tự quản về bảo vệ an ninh, trật tự trên địa bàn cấp xã và hỗ trợ lực lượng Công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quổc trên địa bàn cấp xã.

So với quy định của pháp luật hiện hành đang quy định lực lượng bảo vệ dân phố, Công an xã bán chuyên trách được thực hiện công tác quản lý, trực tiếp thực hiện biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, dự thảo Luật đã điều chỉnh thay đổi về vị trí, chức năng của các lực lượng này sau khi được kiện toàn thống nhất đó là chuyển từ vị trí, chức năng quản lý, trực tiếp thực hiện biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự sang vị trí, chức năng là lực lượng hỗ trợ Công an cấp xã thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự và làm nòng cốt trong xây dựng mô hình tự quản, tự bảo vệ an ninh, trật tự ờ cơsở.

3. Về tiêu chuẩn tuyển chọn: Dự thào Luật quy định tiêu chuẩn về lý lịch, trình độ văn hóa, sức khỏe của người được tuyển chọn tham gia lực lượng bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn, yêu cầu bảo đàm an ninh, trật tự của từng vùng miền.

4. Về quan hệ công tác, phối hợp của lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở: Dự thảo Luật quy định quan hệ công tác với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Công an cấp xã và quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ chức đóng trên địa bàn cấp xã.

5.  Về các hành vi bị nghiêm cấm: Dự thảo Luật quy định về các hành vi bị nghiêm  cấm liên quan đến tổ chức, hoạt động, xây dựng, bảo đảm điều kiện hoạt động đối với lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở.

6.Về nhiệm vụ của lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở: Trên cơ sở rà soát, đánh giá thực trạng hoạt động hiện nay của các lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, dự thảo Luật đã điều chỉnh quy định vềnhiệm vụ của các lực lượng này bảo đảm phù hợp với trình độ, năng lực và thể hiện rõ tính chất là lực lượng tham gia hỗ trợ lực lượng Công an cấp xã trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự ở cơ sở, không trùng lặp với nhiệm vụ của Công an cấp xã và chính quyền cơ sở với 06 nhóm nhiệm vụ được giao.

7. Về sắp xếp, kiện toàn, bố trí lực lượng: Dự thảo Luật quy định kiện toàn thống nhất lực lượng bảo vệ dân phố, lực lượng Công an xã bán chuyên trách đang được tiếp tục sử dụng hiện nay và các chức danh đội trưởng, đội phó đội dân phòng thành một lực lượng chung với tên gọi là lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và được bốtrí theo mô hình tổbảo vệ an ninh, trật tự ở thôn, tổ dân phố, đơn vị dân cư tương đương. Các chức danh tổ trưởng, tổ phó tổ bảo vệ an ninh, trật tự đồng thời là đội trưởng, đội phó đội dân phòng. Đối với chức danh đội viên đội dân phòng và tổ chức, hoạt động, nhiệm vụ, chế độ, chính sách của lực lượng dân phòng thực hiện theo quy định của Luật Phòng cháy và chữa cháy.Với việc điều chỉnh theo hướng nêu trên sẽ bảo đảm không làm tăng số lượng người tham gia hoạt động, không làm tăng chi ngân sách và góp phần: Kiện toàn, tinh gọn thống nhất một đầu mối; cắt bỏ được các khoản chi hỗ trợ cho nhiều lực lượng hiện nay đang tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; bảo đảm linh hoạt, chủ động, nhanh chóng trong chỉ đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự và phòng cháy, chữa cháy ở địa bàn cơ sở; khắc phục được những chồng chéo, mâu thuẫn trong thực hiện nhiệm vụ giữa các lực lượng và bảo đảm tính đồng bộ, thốngnhất của các văn bản quy phạm pháp luật.

8. Về bảo đảm điều kiện hoạt động của lực lưọ’ng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơsở: Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội đã cho ý kiến về dự án Luật tại kỳ họp thứ X, Quốc hội khóa XIV cũng như ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, ý kiến của Chính phủ, các bộ, ban, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật, Bộ Công an đã đánh giá cụ thể về thực trạng lực lượng, nguồn lực hiện có, thực trạng chi hiện nay và khả năng bảo đảm kinh phí, ngân sách của các địa phương để chi trả chế độ, chính sách và bảo đảm điều kiện hoạt động đối với lực lượng dân phòng, bảo vệ dân phố, Công an xã bán chuyên trách đang được tiếp tục sửdụng hiện nay làm cơ sở đề xuất nội dung quy định. Theo đó, dự thảo Luật quy định về bảo đảm điều kiện hoạt động của lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở là bảo đảm cân đối trong tổng mức chi thực tếhiện nay của các địa phương đang thực hiện và không làm tăng chi ngân sách nhà nước khi Luật này được ban hành.Theo đó, dự thảo Luật quy định lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở được hưởng mức hỗ trợ thường xuyên hằng tháng, được hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế; được bốtrí địa điểm,nơi làm việc, bồi dưỡng, huấn luyện, trang bị công cụ hỗ trợ, trang phục, huy hiệu, phù hiệu, biển hiệu, giấy chứng nhận; giải quyết trường hợp khi thực hiện nhiệm vụ bị ốm đau, bị tai nạn, chết, bị thương, hy sinh.

9. Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức: Dự thảo Luật quy định trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận đối với lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở.

10. Về điều khoản thi hành: Dự thảo Luật quy định về hiệu lực thi hành; điều khoản chuyển tiếp; sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều khoản của các luật có liên quan.

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2023

Lịch sử đã ghi dấu một Việt Nam thống nhất non sông và phát triển

 


 

Một đất nước Việt Nam thống nhất, non sông liền một dải, làm thỏa lòng mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của mọi người dân Việt Nam yêu nước đã 48 năm, nhưng những ngày này, trên mạng xã hội vẫn xuất hiện các bài viết: “Lịch sử sẽ viết gì về ngày 30 tháng 4” của Ngô Nhân Dụng đăng trên VOA và Viettan.org ngày 27/4/2023; “30.04 – Lời xin lỗi muộn màng” của Nguyễn Tiến Cường đăng trên Quyenduocbiet.com ngày 28/4/2023; “Đất nước thống nhất, có triệu người vui, nhưng cũng có triệu người buồn” từ FB Dominic Pham đăng trên Chantroimoi.Media.com ngày 28/4/2023; “30/04/1975 – Khởi Đầu cho sự hận thù Bắc – Nam!” của  Nguyên Anh, đăng trên Quyenduocbiet.com ngày 29/4/2023; “Mừng gì?” của Xuan Ngoc Nguyen đăng trên Quyenduocbiet.com ngày 29/4/2023… không chỉ xuyên tạc bản chất cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam vì nền độc lập, tự do, thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà còn bôi đen chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang kiên định xây dựng.

1. Không thể bẻ cong lịch sử

 Bất chấp những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, của những người như Ngô Nhân Dụng, Nguyễn Tiến Cường, Dominic Pham, Nguyên Anh, Xuan Ngoc Nguyen, Hoa Mai Nguyên… thì lịch sử thế giới hiện đại vẫn ghi nhận Đại thắng mùa  Xuân năm 1975 của Việt Nam là một trong những sự kiện nổi bật nhất châu Á trong thập niên 1970 và ảnh hưởng sâu sắc của nó đến khu vực và thế giới là không thể phủ nhận. Điều này đúng như hãng tin Pháp (AFP) đã nhận định ngày 1/5/1975 rằng: “Trong năm 1975, sự kiện nổi bật nhất châu Á là sự kiện 30/4 của Việt Nam. Không còn nghi ngờ gì nữa, sự kiện trên sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến khu vực và thế giới trong tương lai gần” hay “Cuộc chiến tranh Việt Nam đã để lại dấu ấn sâu đậm và đầy ấn tượng trong tâm thức người Mỹ, tạo hiệu ứng dây chuyền trong toàn khu vực Đông Dương” như  tờ Nikkei – chuyên trang kinh tế lớn nhất Nhật Bản số ra ngày 28/4/2005 đã ghi nhận…Lịch sử đã viết về ngày 30/4/1975 của nhân dân Việt Nam như thế đó Ngô Nhân Dụng!

Lịch sử cũng khẳng định rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là để thực hiện khát vọng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất; là để thực hiện chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của nhân loại, chứ những hy sinh, mất mát và đau thương của đồng bào và chiến sĩ cả nước Việt Nam không phải là để “nhà viết sử sẽ ghi nhận 30 tháng Tư năm 1975 là ngày cuộc nội chiến đã chấm dứt giết chết hai triệu người Việt; sau đó ba, bốn trăm ngàn người Việt đã vùi xác trên Biển Đông khi tìm đường chạy trốn một chế độ độc tài khắc nghiệt” như Ngô Nhân Dụng xuyên tạc.

Đừng có bôi đen sự thật và vì thế, Nguyên Anh không thể bẻ cong chiến thắng của nhân dân Việt Nam ngày 30/4/1975 là “đằng sau những lời tuyên truyền dối trá về cái được gọi là “Đại thắng mùa Xuân 1975”, của “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” để giành độc lập thì thực ra đó chỉ là chiến thắng của một thế lực tay sai của khối csQT do hcm – một tên tinh binh xung kích du nhập và đem về VN với sự giúp đỡ to lớn của khối csQT đang hùng mạnh của thập niên 60, 70 trong thế kỷ 20 mà Nga và TQ là hai thế lực chi phối và quyết định số phận của chiến trường VN với sự buông tay của Mỹ”. Thực tế thì thắng lợi của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã không chỉ làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc mà còn kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cứu nước lâu dài nhất, gian truân nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam.

Cho nên, không thể so sánh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với “cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh vào thế kỷ 17, 18” và cũng không thể coi ngày 30/4/1975 là “cuộc nội chiến chấm dứt năm 1975 chỉ là một đoạn trong một cuộc tranh chấp lâu dài hơn giữa hai chủ trương lập quốc sau khi thoát nạn thực dân”, để rồi bịa đặt và kích động rằng “Mừng gì con cháu tiên rồng/G.iết nhau khơi lại chất chồng oan khiên” mà Xuan Ngoc Nguyen viện dẫn từ FB của Hoa Mai Nguyên. Mà sự thật là, “chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng đã trở thành giây phút lịch sử của cuộc đấu tranh anh dũng của quân đội và nhân dân Việt Nam. Chiến thắng mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và thống nhất” cho dân tộc Việt Nam đúng như tờ Pasason của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong bài viết “Truyền thống đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam” đăng ngày 29/4/2010 đã khẳng định.

2. Thống nhất đất nước để cùng hướng đến tương lai tươi sáng

Chiến thắng 30/4/1975 mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc sử chói lọi; để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế và đã trở thành nguồn động lực quan trọng để đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phát triển, hội nhập quốc tế sâu rộng như Thời báo Los Angeles (Mỹ) ngày 1/5/1975 viết: “Người Mỹ ra đi, người Nam Việt Nam (chính quyền tay sai) đầu hàng, nước Việt Nam đã trả lại cho người Việt”. Vì thế mà, 48 năm sau ngày miền Nam giải phóng, cả nước thống nhất, có thể thấy diện mạo một đất nước Việt Nam tươi mới, bừng sáng, ngày càng phát triển đã được khẳng định trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” là không thể phủ nhận.

Gần nửa thế kỷ sau khi cả nước thống nhất, thống nhất non sông, những thành tựu của đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam được bạn bè quốc tế ghi nhận là đã có bước phát triển vượt bậc và bứt phá, với vô số những thành tựu trên mọi lĩnh vực kinh tế, công nghệ, y tế, giáo dục, quân sự và ngoại giao… Thực tế, Việt Nam đã đi từ một nước nghèo khó và phải trải qua những đau thương của chiến tranh để “vươn lên trở thành một nước có thu nhập trung bình với nền kinh tế thị trường năng động”. Những  thành tựu đạt được đó là nhờ đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng; nhờ sức mạnh đoàn kết, sự đồng chí, đồng lòng và chung sức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; nhất là nhờ tinh thần, ý chí, quyết tâm chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược trong chiến tranh được tiếp tục phát huy trong thời kỳ hòa bình, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đồng thời, những thành tựu ấy cũng bác bỏ luận điệu phản động cho rằng “Việt Nam là một trường hợp đặc biệt, và rất đáng thương”, vì “sự kiện đầu tiên dẫn tới cuộc nội chiến là ông Hồ Chí Minh lập đảng Cộng Sản Việt Nam”, vì “30 tháng Tư năm 1975 cũng là ngày bắt đầu giai đoạn suy yếu của chủ nghĩa Cộng Sản ở Việt Nam” như bịa đặt, không có căn cứ.

Lịch sử dân tộc Việt Nam sẽ lên án những người vì động cơ cá nhân mà xuyên tạc sự thật, cũng như bác bỏ mọi luận điệu phản động cho rằng ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng cũng là ngày “khởi đầu sự hận thù Bắc- Nam” hay việc cho rằng “người học lịch sử sau này sẽ tự hỏi tại sao chế độ đó không sụp đổ nhanh hơn, theo sau ở các nước Đông Âu và Nga, để dân Việt Nam được sống tự do sớm hơn, có cơ hội phát triển kinh tế và văn hóa nhanh hơn?”… Vì thực tế, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản lãnh đạo hệ thống chính trị nhưng đó không phải là “một guồng máy chuyên chính, độc quyền rất khó thay đổi”, mà là xuất phát từ thực tiễn, Đảng luôn nắm bắt thuận lợi, thời cơ để lãnh đạo nhân dân phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết muôn người như một; ý chí quyết tâm, bản lĩnh, sáng tạo của từng cá nhân và tập thể để từng bước vượt qua khó khăn, thách thức, nhất là trước tác động của dịch bệnh Covid-19, của thiên tai, bão lũ…

Một đất nước Việt Nam độc lập, tự do, tự cường, luôn có khát vọng và tầm nhìn phát triển; có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nỗ lực tranh thủ mọi nguồn lực trong và ngoài nước để kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; đã phấn đấu đạt được nhiều thành tựu quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật và phát triển nhanh, bền vững sẽ không có chuyện “đến năm 2075 người Việt đọc lịch sử nước mình sẽ thấy Việt Nam đã bỏ lỡ nhiều cơ hội, thật đáng tiếc” như những người nhân danh yêu nước lại thường tung tin xấu độc nhằm chống phá Đảng, chế độ và gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Vì thế, một bài học kinh nghiệm mà người Việt Nam nào cũng phải ghi nhớ đó là: Bất cứ cá nhân, tổ chức nào xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và chia rẽ tình đoàn kết, yêu nước của mọi người Việt Nam thì đều là có tội với với các thế hệ người Việt Nam yêu nước, với lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài dựng nước, giữ nước, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước được như ngày nay!

 

LỰC LƯỢNG AN NINH CHÍNH TRỊ NỘI BỘ 65 NĂM XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH

Từ Nhân dân mà ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trải qua các chặng đường dấu tranh cách mạng, Công an nhân dân Việt Nam không ngừng trưởng thành, góp phân viết nên những trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Lực lượng An ninh chính trị nội bộ (sau đây gọi tắt là ANCTNB) ra đời và lớn lên cùng với bước trưởng thành của Công an nhân dân (CAND), từ một bộ phận nhỏ trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp đến nay đã lớn mạnh về mọi mặt từ Trung ương tới địa phương, thực hiện tốt chức năng tham mưu cho Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an trong công tác bảo vệ nội bộ các cơ quan Đảng, Nhà nước Trung ương; các cơ quan tư pháp, xây dựng pháp luật, tổ chức chính trị – xã hội Trung ương; bảo đảm An ninh báo chí, xuất bản; An ninh y tế, giáo dục, khoa học xã hội; An ninh văn hóa, thể thao và lao động xã hội; An ninh bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin và quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước.

lực lượng An ninh chính trị nội bộ, Công an tỉnh Quảng Bình tham gia bảo vệ các sự kiện chính trị lớn của tỉnh

Qua 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng ANCTNB từ Trung ương đến các địa phương, các thế hệ nối tiếp nhau ra sức xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phát huy bản chất cách mạng và truyền thống vẻ vang của lực lượng An ninh nhân dân anh hùng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng Cộng sản và Nhân dân. Lực lượng ANCTNB đã đoàn kết, mưu trí, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, thách thức, lập nên nhiều thành tích, chiến công xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững An ninh quốc gia, góp phần tô thắm lá cờ truyền thống anh hùng của Công an nhân dân Việt Nam.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã có những cán bộ làm nhiệm vụ bảo vệ Đảng, đến mùa Thu năm 1945 lịch sử, một bộ phận làm công tác bảo vệ ANCTNB đã ra đời, góp phần quan trọng vào công cuộc bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ đứng vững trước sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, phản động.

Ngày 16/02/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh số 141 thành lập Thứ Bộ Công an, trong đó lực lượng Bảo vệ nội bộ là bộ phận thuộc Vụ Bảo vệ chính trị do đồng chí Ngô Ngọc Du làm Vụ trưởng.

Giữa năm 1956, theo yêu cầu nhiệm vụ, lực lượng bảo vệ nội bộ phát triển thành 4 phòng trực thuộc Vụ Bảo vệ chính trị do đồng chí Lê Quốc Thân làm Giám đốc gồm: Phòng Bảo vệ dân, chính, đảng Trung ương, Phòng Bảo vệ y tế, Phòng Bảo vệ giáo dục, Phòng Bảo vệ văn hoá nghệ thuật.

Ngày 10/5/1958, tại Tờ trình số 521-V8/1 của Bộ Công an, Ủy ban kiện toàn tổ chức Trung ương quyết định tách lực lượng Bảo vệ nội bộ ra khỏi Vụ Bảo vệ chính trị, thành lập Vụ Bảo vệ cơ quan do đồng chí Nguyễn Quang Việt làm Vụ trưởng. Đây là sự kiện đặc biệt mà đến nay các thế hệ cán bộ lực lượng ANCTNB luôn khắc ghi, từ đó ngày 10/5/1958 được lấy làm Ngày truyền thống của lực lượng ANCTNB.

Trước thực tiễn mỗi thời kỳ cách mạng, trải qua rất nhiều lần thay đổi mô hình, tổ chức với các tên gọi khác nhau như: Cục Bảo vệ nội bộ (1963); Cục Bảo vệ cơ quan và văn hoá (1967): Cục An ninh kinh tế, văn hoá tư tưởng (1981); Cục An ninh văn hoá tư tưởng (1983); Cục Bảo vệ nội bộ (1988); Cục Bảo vệ An ninh văn hoá tư tưởng (1990); Cục An ninh Chính trị nội bộ (2010); Cục An ninh thông tin, truyền thông (2010); Cục An ninh văn hóa, thông tin, truyền thông (2014).

Năm 2018, trước yêu cầu thực tiễn công tác của lực lượng Công an nhân dân, thực hiện Nghị định số 01/2018/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 06/8/2018 Cục ANCTNB được thành lập trên cơ sở hợp nhất 02 Cục gồm: Cục ANCTNB và Cục An ninh văn hóa, thông tin, truyền thông. Tổ chức Cục gồm 09 phòng, gồm: Phòng Tham mưu; Phòng Chính trị, hậu cần; Phòng Bảo vệ nội bộ các cơ quan Đảng, Nhà nước, Trung ương; Phòng An ninh các cơ quan tư pháp, xây dựng pháp luật, tổ chức chính trị, xã hội Trung ương, Phòng An ninh báo chí, xuất bản; Phòng An ninh y tế, giáo dục, khoa học xã hội, khoa học công nghệ; Phòng An ninh văn hóa, thể thao và lao động xã hội; Phòng An ninh bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin; Phòng Quản lý nhà nước về bảo vệ Bí mật nhà nước, do đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Khắc Khanh giữ chức vụ Cục trưởng. Tại Công an các địa phương thành lập Phòng An ninh chính trị nội bộ trực thuộc tỉnh, thành phố; từ đó đến nay, lực lượng ANCTNB được thống nhất từ Trung ương đến địa phương về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANCTNB.

Khi tôi lớn lên....